KHOA HỌC VÀ PHẢN KHOA HỌC


Gần đây, trên một số kênh thông tin (mạng) có những bài viết với những ý kiến trái ngược xung quanh việc ra đời của Viện Phan Châu Trinh cũng như sự xuất hiện của nhóm “nhân sĩ Đà Lạt” với việc thành lập “câu lạc bộ Phan Tây Hồ” muốn lan tỏa phương thức hoạt động dựa vào uy tín của nhà yêu nước đầu thế kỷ XX Phan Châu Trinh để đạt mục đích riêng.

Sẽ là sai lầm nếu tiếp tục sa đà vào việc xem xét lịch sử liên quan đến những con người có tên tuổi trong quá trình dựng nước, giữ nước. Không ai nghi ngờ và cũng không ai xuyên tạc, xúc phạm cụ Phan Châu Trinh, một nhà yêu nước đã dùng những cải cách văn hóa, mở mang dân trí, nâng cao dân khí, phát triển kinh tế làm cho dân giàu, nước mạnh, buộc thực dân Pháp trao trả độc lập cho nước Việt Nam.

Tuy nhiên, do những hạn chế về lịch sử, về giai cấp, nên các sĩ phu cấp tiến lãnh đạo phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX trong đó có Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh không thể tìm được một phương hướng giải quyết chính xác cho cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc, nên chỉ sau một thời kỳ phát triển đã bị kẻ thù dập tắt. Theo tư liệu lịch sử giai đoạn trước năm 1911- giai đoạn hình thành nhận thức có tính phê phán các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX trên lập trường phong kiến hoặc theo khuynh hướng tư sản, cho thấy:

Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) “khâm phục các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu, nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào. Vì:

Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương. Anh nhận điều đó là sai lầm chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương.

Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”.

Cụ Hoàng Hoa Thám thực tế hơn, vì trực tiếp đấu tranh chống Pháp. Nhưng theo lời người ta kể thì cụ còn nặng cốt cách phong kiến.

Anh thấy rõ và quyết định con đường nên đi”.

Mọi người đều biết, một sự kiện đánh dấu bước ngoặt quyết định trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản; mở đường giải quyết đúng đắn về đường lối giải phóng dân tộc của Việt Nam. Bằng thiên tài trí tuệ và hoạt động cách mạng của mình, Nguyễn Ái Quốc đã kịp thời đáp ứng nhu cầu bức thiết của lịch sử. Vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sĩ phu và của các nhà cách mạng có xu hướng tư sản đương thời, Nguyễn Ái Quốc đã đến với học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản… Người nói: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ vươn lên làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước Việt Nam từ nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trở thành một nước đang phát triển có thu nhập trung bình, có vị thế, uy tín ngày càng cao trên trường quốc tế. Đó là một thực tế lịch sử hiện hữu không ai có quyền phủ nhận những thành quả đó.

Trong bài viết “Viện Phan Châu Trinh Nguyên Ngọc tôi tin” , blog Văn Việt, tác giả viết: “Mọi người đều biết, trong chế độ chuyên chính vô sản độc tài toàn trị không có khoa học xã hội đích thực, chỉ có cái gọi là khoa học xã hội phục vụ chính trị”. Nói như vậy là chủ quan, võ đoán, phủ định sạch trơn những thành quả đạt được trên lĩnh vực khoa học mà đất nước đã đạt được kể từ khi giành được chính quyền. Phải thấy rằng từ năm 1986 đến nay, trên lĩnh vực khoa học nói chung và khoa học xã hội nhân văn nói riêng đã có những đóng góp trong quá trình đổi mới, đặc biệt là việc bổ sung phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Cách đây không lâu, một luận điểm mới được ra đời: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đó là nền nếp hàng ngày của xã hội mới, thể hiện chế độ nhân dân lao động tự quản lý Nhà nước của mình. Dẫu biết rằng đây đó, có lúc, có nơi chưa làm được, thậm chí vi phạm quyền làm chủ của người dân. Như mọi người đều biết: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ của đại đa số nhân dân, gắn bó với quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, được pháp luật bảo đảm, dưới sự lãnh đạo của Đảng; là một hình thức thể hiện quyền tự do, bình đẳng của công dân, xác định nhân dân là chủ thể của quyền lực. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Nhưng quốc gia nào cũng vậy, dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm. Nhà giáo dục nổi tiếng của Liên Xô trước đây là Makarenko từng nói: “Kỷ luật, ai có tính kỷ luật thì người đó sẽ thắng. Kỷ luật là tự do”. Anh muốn tự do, anh phải tôn trọng pháp luật.

Đúng là trong điều kiện toàn cầu hóa mà không học là không được. Cụ Phan Châu Trinh tặng vật quý báu cho đồng bào ta, đó là “CHI BẰNG HỌC” ở thời điểm đó quả là giá trị của một trong những người nhìn xa, trông rộng. Ngay từ năm 1946, khi trả lời các nhà báo nước ngoài, Hồ Chí Minh cũng đã nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Người cũng từng khuyên cán bộ: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ”. Phải chăng tư tưởng lớn của các cụ đã gặp nhau. Trong bức thư đề ngày 18-2-1922 của cụ Phan Chu Trinh gửi từ Mác-Xây cho Nguyễn Ái Quốc ở Pari, cụ Phan chiêm nghiệm: “Tôi tự ví thân tôi như con ngựa già hết nước kiệu, phi nước tế”, “cây già thì gió dễ lay, người già thì trí dễ lẫn”, “cảnh tôi như hoa sắp tàn”. Cuối thư, cụ chân thành, thoải mái gửi gắm niềm tin đến Nguyễn Ái Quốc “như cây đương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hành, lý thuyết tinh thông”. Và cụ tin “không bao lâu nữa cái chủ nghĩa Anh (NAQ) tôn thờ (chủ nghĩa Mác-Lênin) sẽ thâm căn cố đế (sâu rễ bền gốc) trong đám dân tình chí sĩ nước ta”. Quả là một lời tiên tri đắt giá như một chân lý.

Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, việc nâng cao dân trí có liên quan đến vận mệnh quốc gia, Người quan niệm dốt nát cũng là kẻ địch (giặc đói, giặc dốt, giặc ngoài xâm). Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Vì vậy, nhiệm vụ vừa mang tính cấp bách vừa mang tính thường xuyên cơ bản lâu dài là: xóa mù chữ, nâng cao trình độ học vấn – cơ sở văn hóa của tinh thần.

Qua thư gửi học sinh nhân ngày khai trường tháng 9/1945, Hồ Chí Minh gửi gắm vào thế hệ trẻ – chủ nhân tương lai của đất nước: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

Tổng kết kinh nghiệm lịch sử của nước ta và của các nước trên thế giới, từ Đại hội VIII của Đảng đến nay, Đảng tiếp tục khẳng định giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu. Đối với “Khoa học xã hội và nhân văn đặt trọng tâm vào tổng kết thực tiễn, đi sâu nghiên cứu những vấn đề lớn của đất nước, khu vực và toàn cầu, giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cung cấp luận cứ cho việc hoạch định đường lối chiến lược, chính sách phát triển kinh tế – xã hội, phát huy nhân tố con người và văn hóa Việt Nam”. Đó, “Khoa học phục vụ chính trị” là như thế không có gì khác đâu các vị ạ!. Trong khoa học xã hội và nhân văn, nếu không bám sát thực tiễn thì kết quả nghiên cứu sẽ rơi vào kinh viện, xa rời cuộc sống. Theo Lênin “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”. Trong quá trình hình thành, phát triển và chỉ đạo sự nghiệp đổi mới, Đảng hết sức quan tâm, thực hiện tổng kết thực tiễn phong trào quần chúng. Từ những tổng kết đó mà hình thành những quan điểm, đường lối để đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới đạt nhiều thành tựu. Đương nhiên có tiếp thu, chọn lọc của nước ngoài, nhưng tổng kết thực tiễn là quan trọng nhất.

Để có những thành tựu khoa học, điều quan trọng là phải biết coi trọng nhân tài, vì làm khoa học là phải có kiến thức, trí tuệ. Bằng đức độ và uy tín, Hồ Chí Minh trân trọng đón mời, sẵn sàng thể tất những mặt thứ yếu và trao thực chức, thực quyền cho người có tài năng, kể cả những người từng có lúc sa chân lỡ bước nhưng đã rời bỏ mê lầm. Người đã quy tụ được quanh mình những trí thức thuộc cỡ lớn nhất của dân tộc, trong đó có những bậc thầy đã dứt bỏ địa vị và cuộc sống cao sang ở nước ngoài theo Hồ Chí Minh về nước tham gia kháng chiến, kiến quốc.

Người viết bài này không có ý chỉ nói những mặt được để phê phán tác giả (như đã nêu) mà cũng phải thấy rằng: Nhiều năm trước, Đảng và Nhà nước không quan tâm đúng mức đến khoa học xã hội, để khoa học xã hội ở tình trạng “chậm trễ, lạc hậu” như Đại hội IX của Đảng có đề cập. Đành rằng, những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước có quan tâm hơn như xây dựng hệ thống chương trình, đề tài cấp Nhà nước; đầu tư kinh phí; đào tạo đội ngũ cán bộ vv… Tuy nhiên, sự quan tâm đó chưa đủ tầm để khắc phục nhanh chóng tình trạng lạc hậu. Nghị quyết Trung ương hai (khóa VIII) nhận định: “Tình trạng chậm trễ trong một số lĩnh vực lý luận và khoa học xã hội chưa được khắc phục”. Nhận định này vẫn mang tính thời sự. Chưa kể đến đội ngũ cán bộ khoa học xã hội chưa thực sự yên tâm trong quá trình nghiên cứu, tìm tòi cái mới. Có người mặc cảm với sự nhận xét, quy chụp về quan điểm, lập trường, trong quá trình tìm tòi cái mới. Đội ngũ cán bộ khoa học xã hội nhìn chung còn yếu, đặc biệt thiếu những chuyên gia giỏi, chuyên gia đầu ngành làm hạn chế đến sự phát triển của khoa học xã hội. Đây là vấn đề Đảng và Nhà nước đang tiếp tục chỉ đạo khắc phục.

Có lẽ xuyên suốt trong bài viết của tác giả như đã nêu trên, lặp đi lặp lại sự chì chiết về “khoa học và làm khoa học”. Thực ra, đã là khoa học thì phải chính xác. Nếu nói đúng, làm đúng thì đó là khoa học. Nếu nói sai hoặc lợi dụng uy tín của ai đó để làm sai, bóp méo sự thật thì đó là phản khoa học. Hy vọng rằng, sự ra đời và hoạt động của Viện Phan Châu Trinh sẽ gặp những điều tốt lành. Và cũng mong rằng các “cổ động viên” của Viện bình tĩnh hơn, “NỔ” ít thôi, cái gì thái quá cũng là phản khoa học.

Hà Phúc Lâm

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân – Điều Hà Sỹ Phu không muốn biết!


Cuối tháng 4 năm 2017, trên một số trang mạng xấu đã đưa bài viết của Hà Sĩ Phu với tựa đề “Đất đai và bản chất ăn cướp của một điều luật” nói về Điều 53 của Hiến pháp sửa đổi năm 2013 trong đó ông ta đã cố lập luận theo sự hiểu biết của chính mình về vấn đề này… Điều đáng nói nhất là với trình độ của một người từng đi nghiên cứu sinh khoa học ở nước ngoài thì lẽ ra phải hiểu nhiều, biết nhiều nhưng đáng tiếc lại có điều mà Hà Sĩ Phu không muốn biết !

Là người Việt Nam, ai mà không biết nước ta vốn là một nước nông nghiệp và nông dân chiếm đại bộ phận trong dân cư cho nên đất đai có vị trí hết sức quan trọng trong đời sống xã hội. Do vậy, mỗi khi ban hành, sửa đổi, bổ sung đạo luật cơ bản nhất là Hiến pháp và luật chuyên ngành là Luật đất đai mà trước đó phải tổ chức lấy ý kiến góp ý vào các dự thảo thì việc quy định chế độ sở hữu đất đai luôn thu hút được sự chú ý đặc biệt của mọi người dân. Mặc dù có ý kiến cho rằng phải đa dạng hình thức sở hữu đất đai trong đó có sở hữu tư nhân về đất đai, nhưng đây chỉ là ý kiến của một số ít người trong khi đại đa số nhân dân tán thành chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, không tư nhân hóa đất đai…

Đâu phải đến năm 2013 khi sửa đổi Hiến pháp, nước ta mới quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân tại Điều 53 “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Cách đó hơn 33 năm vào năm 1980, khi tiến hành xây dựng Hiến pháp của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, qua góp ý của toàn dân và qua thảo luận tại Quốc hội khóa VI, Điều 19 của Hiến pháp năm 1980 đã được thông qua với nội dung “Đất đai, rừng núi, sông hồ…đều thuộc sở hữu toàn dân” cùng với Điều 20 “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, nhằm bảo đảm đất đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm. Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật…”. Đến Hiến pháp năm 1992 với Điều 17 quy định “Đất đai, rừng núi, sông hồ… đều thuộc sở hữu toàn dân”, Điều 18 “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài…”. Trên cơ sở Hiến pháp, ngày 29/11/2013, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai với Điều 4 quy định rõ: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của luật này”.

Tất cả các quy định trên đều đã được xây dựng trên lập luận vững chắc: Đất đai chính là thành quả của sự nghiệp giữ nước và dựng nước hàng ngàn năm của cả một dân tộc anh hùng và bất khuất. Nếu không kiên cường chiến đấu với giặc ngoại xâm thì độc lập tự do còn không có còn nói gì đến đất với đai và có thể khẳng định rằng từng tấc đất hiện tại đã thấm đẫm biết bao mồ hôi, nước mắt và cả máu của tổ tiên, ông cha để giữ gìn cho các thế hệ hôm nay và cả mai sau… Đất đai đó là thành quả chung của cả dân tộc chứ đâu phải của riêng ai nên phải thuộc sở hữu chung của toàn dân và được sử dụng phục vụ cho mục đích chung của toàn thể nhân dân…

Do vậy, không thể để cho một số người nào đó có quyền độc chiếm sở hữu đất đai bởi vì đó không những là kìm hãm sự phát triển nông nghiệp mà còn dẫn đến tình cảnh đại đa số nông dân không có ruộng đất, phải thuê lại của địa chủ, phong kiến và bị bóc lột địa tô rất nặng nề như trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Cũng cần phải nhớ rằng dưới thời phát xít Nhật chiếm đóng nước ta, bắt dân ta nhổ lúa trồng đay đã dẫn đến tình cảnh hàng triệu nông dân bị chết đói vào năm Ất Dậu hay việc tập trung đất đai trong tay một số người có nhiều tiền, dẫn đến có người sở hữu quá nhiều đất, người không có tấc đất cắm dùi đã diễn ra trong cải cách ruộng đất của chế độ Mỹ – Diệm những năm 60 của thế kỷ XX ở miền Nam nước ta… Từ thực tế ấy, tất yếu không bao giờ thiết lập lại chế độ sở hữu tư nhân về đất đai để đưa người dân Việt Nam trở về chế độ nông nô – địa chủ như trước kia được!

Hơn nữa, trong điều kiện nước ta đang thực hiện quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, việc thiết lập chế độ sở hữu tư nhân về đất đai là một yếu tố cản trở đầu tư cho phát triển kinh tế – xã hội bởi vì muốn công nghiệp hóa, đô thị hóa thì đòi hỏi phải chuyển một diện tích đất nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp. Nếu đất đai thuộc sở hữu tư nhân thì nhà đầu tư phải thỏa thuận với quá nhiều người và chỉ cần có một người không đồng ý với phương án chung hoặc ra giá quá cao thì làm sao mà triển khai thực hiện được… Nếu đất đai thuộc sở hữu tư nhân thì thử hỏi ai có quyền ngăn cản người chủ đất sử dụng đất – tài sản riêng của họ – theo ý họ. Và như thế đất đai có xu hướng được sử dụng không hiệu quả, không vì mục đích sinh tồn của đa số dân cư khi một người sở hữu nhiều đất nhưng không có nhu cầu sử dụng đất đó có hiệu quả trong khi có rất nhiều người nông dân sống lay lắt vì không có đất, không có việc làm!

Thực tế cho thấy, trong những năm vừa qua, khi Nhà nước cho phép người có quyền sử dụng đất chuyển nhượng quyền này, một số người đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long đã vì khó khăn, vì tham lời trước mắt mà bán đất để rồi không có đất sản xuất nên sa vào khó khăn, nghèo đói buộc xã hội phải cứu trợ và Nhà nước phải giao đất khác cho họ tiến hành sản xuất. Nếu đất đai thuộc sở hữu tư nhân, khi nhiều hộ nông dân nghèo mất đất, thử hỏi nếu Nhà nước muốn mua lại đất để giao cho dân thì liệu có thể thực hiện được không?

Mặc dù hiện nay, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, song cũng không thể thực hiện đa hình thức sở hữu về đất đai. Bởi đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và có hạn; là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là nguồn sống của nhân dân, là tài sản, nguồn lực to lớn của đất nước, không giống như các tư liệu sản xuất, tài sản thông thường khác. Do đó, đất đai phải thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của pháp luật thì việc khai thác, sử dụng đất đai mới bảo đảm hiệu quả cao, nhằm phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh của đất nước.

Cần khẳng định rằng, sở hữu toàn dân về đất đai không phải là khái niệm “mơ hồ”, “tù mù” hay người dân không có thực quyền gì đối với đất đai. Sở hữu toàn dân về đất đai không đồng nhất với sở hữu Nhà nước về đất đai. Sở hữu toàn dân về đất đai phải được hiểu là đất đai không thuộc sở hữu của riêng ai, toàn thể nhân dân là chủ sở hữu đối với đất đai, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và được giao nhiệm vụ thống nhất quản lý. Việc quy định Nhà nước ở nước ta là đại diện chủ sở hữu đất đai và thống nhất quản lý xuất phát từ bản chất của Nhà nước là Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Mọi tài sản, tư liệu sản xuất do Nhà nước đại diện cho dân là chủ sở hữu đều được sử dụng vào mục đích phục vụ lợi ích chung của toàn thể nhân dân. Đồng thời, thực hiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai không làm hạn chế đến quyền của tổ chức, cá nhân sử dụng đất. Các điều 166 và 167 của Luật đất đai đã quy định rõ: người sử dụng đất có các quyền chung và các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất. Thực tế bao nhiêu năm nay chính người dân đã thực hiện những quyền có liên quan đến đất đai của mình một cách thuận lợi…

Trong thời gian qua, ở nước ta nảy sinh một số tiêu cực, hạn chế trong quản lý, sử dụng đất đai, song những hạn chế, tiêu cực đó không phải do bản chất của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai gây ra. Những hạn chế, tiêu cực đó một mặt, do sự yếu kém trong quản lý đất đai của Nhà nước, chính sách đất đai thay đổi qua nhiều thời kỳ. Đến nay, chủ trương, chính sách, pháp luật về đất đai còn một số nội dung chưa đủ rõ, chưa phù hợp; tổ chức bộ máy, năng lực đội ngũ cán bộ về quản lý đất đai còn không ít hạn chế, yếu kém, một bộ phận còn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, tham nhũng. Mặt khác, do nước ta trải qua nhiều thời kỳ, giai đoạn lịch sử khác nhau, đất đai có nguồn gốc rất phức tạp… Trước thực trạng đó, Luật đất đai năm 2013 đã có những điều chỉnh, bổ sung để việc quản lý, sử dụng đất đai chặt chẽ, hiệu quả hơn, hạn chế nảy sinh những tiêu cực, hạn chế và Nhà nước tiếp tục sửa đổi, bổ sung thêm để hệ thống pháp luật về đất đai ngày càng hoàn thiện kể cả việc xem xét sửa đổi Luật Đất đai 2013 theo hướng mở rộng hạn điền cho việc tích tụ ruộng đất được thuận lợi cũng như khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mạnh vào nông nghiệp, nông thôn…

Được biết cho đến năm 2003, cả nước đã cơ bản giao xong đất nông nghiệp cho gần 12 triệu tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng, với diện tích gần 9,4 triệu ha. Trong đó, đã cấp hơn 11,49 triệu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (tương ứng với 92,7% số đối tượng và 97,8% số diện tích); đã giao và cho thuê sử dụng vào mục đích chuyên dùng và xây dựng nhà ở 44.691 dự án (công trình) với tổng diện tích 405.910 ha… Trong hai năm 2014 và 2015 là những năm trọng tâm triển khai tổ chức thi hành Luật đất đai năm 2013, cả nước đã tiếp tục thực hiện công việc này. Đến hết tháng 6 năm 2015, đã cấp 41.757.000 Giấy chứng nhận với diện tích 22.963.000 ha, đạt 94,9% diện tích cần cấp các loại đất chính và tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều cơ bản hoàn thành mục tiêu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Nghị quyết số 30/2012/QH13 của Quốc hội…

Từ những vấn đề trên cho thấy, việc quy định đất đai là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của pháp luật trong Hiến pháp và Luật đất đai là rất cần thiết và đúng đắn. Việc làm này phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh nước ta, bảo đảm sự thống nhất lợi ích của người dân và lợi ích quốc gia chứ không phải như Hà Sĩ Phu và một số người đưa ra luận điệu cho rằng sở hữu toàn dân về đất đai là “nói chữ”, là “cướp đi quyền tư hữu”, là người dân không có quyền thực sự đối với đất đai… Luận điệu của họ nhằm nhằm mục đích cổ súy cho tư nhân hóa đất đất đai, phủ nhận chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và thực chất là cản trở việc triển khai thực hiện các quy định của Hiến pháp về đất đai đã có từ 33 năm nay…

Và đó cũng chính là điều mà Hà Sĩ Phu và cả những kẻ “đồng hội đồng thuyền” biết rất rõ, nắm rất rõ vì họ cũng đang sống trên đất, đang được sử dụng đất và có kẻ còn đang kinh doanh trên đất để kiếm lợi. Thế nhưng họ cố tình không muốn biết để thực hiện những âm mưu, toan tính trái “đạo lý, luân thường”, đi ngược lại với lòng mong muốn của toàn thể dân tộc Việt Nam đang ngày đêm hăng say lao động cống hiến sức mình để giữ gìn và bồi bổ cho đất đai – thành quả hàng ngàn đời mà cả dân tộc đã có được./.

Ngàn Thông

KHÔNG ĐƯỢC MƯỢN DANH “PHAN TÂY HỒ” ĐỂ XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ CHẾ ĐỘ


Ngày 4/5/2017, trên “danlambaovn.blogspot.com”, ông Mai Thái Lĩnh là người trong “một nhóm trí thức như ông Hà Sĩ Phu đã ra mắt Câu lạc bộ Phan Tây Hồ” đã trả lời phỏng vấn về mục đích “tại sao nhóm nhân sĩ Đà Lạt lại thành lập Câu lạc bộ Phan Tây Hồ”. Trước hết, Mai Thái Lĩnh cho rằng“tư tưởng chính trị của Phan Châu Trinh cực kỳ vĩ đại”. Về nội dung trả lời phỏng vấn, người viết bài này trao đổi với ông một vài vấn đề để tránh sự đánh tráo khái niệm, mập mờ khiến độc giả hiểu sai, không đúng một cách đáng tiếc về nhà yêu nước đầu thế kỷ XX Phan Châu Trinh.

VÀI NÉT VỀ CHÍ SĨ YÊU NƯỚC PHAN CHÂU TRINH

Có lẽ qua nhiều thế hệ, không mấy người Việt Nam không tường tận về chí sĩ Phan Châu Trinh. Theo tư liệu của chính Trường THPT Phan Châu Trinh-TP. Đà Nẵng: “Phan Châu Trinh tự là Tử Cán, hiệu Tây Hồ, biệt hiệu Hy Mã, sinh ngày 9/9/1872 tại làng Tây Lộc, xã Tam Phước nay là xã Tam Lộc, Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Năm 28 tuổi đỗ Cử nhân (1900), 29 tuổi đỗ Phó bảng (1901), cùng khoa với Phó bảng Nguyễn Sinh Huy (thân sinh Nguyễn Ái Quốc). Năm 1902, Phan Châu Trinh được triều đình nhà Nguyễn bổ nhiệm làm Thừa Biện (một chức quan nhỏ) Bộ Lễ và đến năm 1904 cụ xin từ quan. Phan Châu Trinh dành nhiều thời gian cho việc sáng tác văn thơ và kết giao với các sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế… đọc “tân thư”, tiếp thu tư tưởng cách mạng tư sản phương Tây, tìm hiểu cuộc duy tân ở Nhật Bản. Năm 1905, Phan Châu Trinh cùng với Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp bắt đầu cuộc vận động duy tân ở Quảng Nam với 3 mục tiêu: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.

Năm 1908, phong trào đòi giảm sưu thuế nổ ra khắp Trung Kỳ, Phan Châu Trinh bị thực dân Pháp bắt giam và đày ra Côn Đảo. Được sự can thiệp của Hội Nhân Quyền Pháp, năm 1911, ông được trả tự do và sang Pháp hoạt động.

Tại Pháp, Phan Châu Trinh viết “Trung Kỳ dân biến thỉ mạt kí”, nói về cuộc dân biến ở Trung Kỳ năm 1908; “Đông Dương chính trị luận”, phê phán chính sách cai trị của Pháp ở Đông Dương. Năm 1912, cùng với Phan Văn Trường thành lập “Hội đồng bào thân ái”. Năm 1920, Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Truyền hình thành nhóm “Ngũ Long” (nhóm những người Việt Nam yêu nước tại Pháp).

Năm 1925, Phan Châu Trinh về nước, nhân dân Sài Gòn nhất là học sinh nồng nhiệt chào đón cụ. Khi Phan Bội Châu bị Hội đồng đề hình Pháp xử mức án “khổ sai chung thân”, Phan Châu Trinh gửi điện cho Toàn quyền Đông Dương đề nghị ân xá cho Phan Bội Châu. Tháng 11-1925, Phan Châu Trinh diễn thuyết tại nhà Hội thanh niên Sài Gòn về “Đạo đức luân lý Đông – Tây”; “Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ nghĩa”.

Sau hai lần tù tội, 14 năm lao động vất vả nơi xứ người, Phan Châu Trinh gầy yếu và bệnh nặng. Ngày 24/3/1926, lúc 21 giờ 30, cụ từ trần, hưởng thọ 54 tuổi. Đám tang và Lễ truy điệu Phan Châu Trinh trở thành cuộc vận động ái quốc rộng lớn.

Mặc dù có những hạn chế nhất định, nhưng điều đáng quý ở Phan Châu Trinh là tinh thần yêu nước nồng nhiệt, ý chí đấu tranh bất khuất trước cường quyền và gian khổ, quyết tâm đổi mới đất nước…”.

Với sự “dày công” nghiên cứu, Mai Thái Lĩnh đã phát hiện điều gì mới ở Phan Châu Trinh? Mai Thái Lĩnh đề cao: “Ông cũng là người chủ trương dân chủ đa đảng… nếu đi vào nội dung chính thì chúng ta thấy ông không chủ trương đấu tranh giai cấp,…”. Nhận xét như vậy, không hay Mai Thái Lĩnh có rành bối cảnh đất nước từ khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách cai trị dân ta? Bất cứ người Việt Nam đều rõ: Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công xâm lược và từng bước thiết lập bộ máy thống trị ở Việt Nam, biến một quốc gia phong kiến thành nước thuộc địa nửa phong kiến.

Về chính trị, thực dân Pháp áp đặt chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực đối nội và đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn; chia Việt Nam thành ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng. Thực dân Pháp câu kết với giai cấp địa chủ để bóc lột kinh tế và áp bức chính trị đối với nhân dân Việt Nam.

Dưới tác động của chính sách cai trị và chính sách kinh tế, văn hóa, giáo dục thực dân, xã hội Việt Nam đã diễn ra quá trình phân hóa sâu sắc.
Các giai cấp, tầng lớp trong xã hội lúc này đều mang thân phận người dân mất nước và ở những mức độ khác nhau, đều bị thực dân áp bức, bóc lột. Vì vậy, trong xã hội Việt Nam, ngoài mâu thuẫn cơ bản giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ và phong kiến, đã nảy sinh mâu thuẫn vừa cơ bản vừa chủ yếu và ngày càng gay gắt trong đời sống dân tộc, đó là mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược. Tính chất của xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa nửa phong kiến đang đặt ra hai yêu cầu: Một là, phải đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Hai là, xóa bỏ chế độ phong kiến, giành quyền dân chủ cho nhân dân, chủ yếu là ruộng đất cho nông dân. Trong đó, chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu.

Trước những yêu cầu đó, các phong trào yêu nước của nhân dân ta chống thực dân Pháp diễn ra liên tục và sôi nổi nhưng đều không mang lại kết quả. Phong trào Cần Vương do giai cấp phong kiến lãnh đạo đã chấm dứt ở cuối thế kỷ XIX với cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng (năm 1896). Phong trào nông dân, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài mấy chục năm cũng thất bại vào năm 1913. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh lãnh đạo cũng rơi vào bế tắc. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng bị thất bại.

Nguyên nhân từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, các phong trào yêu nước lần lượt thất bại là do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng cần thiết. Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước và chỉ khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sau hành trình bôn ba năm châu bốn biển gặp chủ nghĩa Lê-nin mới thực sự tìm ra con đường giải phóng đúng đắn cho Việt Nam và nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc

Có lẽ, xin được viện dẫn đôi dòng về mối quan hệ sâu nặng, ân tình giữa chí sĩ Phan Châu Trinh và Hồ Chí Minh. Cùng năm 1911, Phan Châu Trinh rời Sài Gòn ngày 1/4 và đến Pháp vào ngày 27/4, ngụ tại Pa-ri; ngày 5/6, Nguyễn Tất Thành với cái tên là Ba rời Sài Gòn và ngày 15/7 đến cảng Lơ Ha-vơ-rơ (Pháp). Về tuổi tác, Phan Châu Trinh là bậc cha chú của Nguyễn Ái Quốc. Mặc dù giữa hai người có sự khác nhau về phương pháp cứu nước, nhưng Nguyễn Ái Quốc luôn một lòng tôn kính cụ Phan Châu Trinh. Thời gian hai người cùng sống ở châu Âu, Phan Châu Trinh ở Pháp; Nguyễn Ái Quốc đã có một số lần viết thư gửi cụ Phan khi xảy ra Chiến tranh thế giới thứ I. Sau Nguyễn Ái Quốc về hoạt động ở Pa-ri và được Phan Châu Trinh giúp đỡ rất nhiều. Cụ còn giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc làm quen với những người bạn Pháp. Những người bạn Pháp có cảm tình với Phan Châu Trinh thì cũng trở thành bạn của Nguyễn Ái Quốc. Cụ Phan Châu Trinh đã giới thiệu những người Pháp có cảm tình với Việt Nam để những người này có thể giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc như Giu-lét Ru, Ma-rin Ma-tel, nhà báo Bác-buýt.

Cùng có “mẫu số chung” là nhiệt tình yêu nước, có trách nhiệm đối với nhân dân, dân tộc nhưng phương pháp cách mạng của hai người lúc đầu không hoàn toàn giống nhau. Cụ Phan Châu Trinh muốn giữ cương vị của mình là một nhà chí sĩ yêu nước không đảng phái… còn Nguyễn Ái Quốc thì đến với học thuyết Mác-Lênin.

SỰ NGHIỆP ĐỘC LẬP NƯỚC NHÀ TRÔNG CẬY VÀO NGUYỄN ÁI QUỐC

Và sau nhiều thất bại, khi đã cảm thấy mình bất cập với thời thế, trong một bức thư đề ngày 18/2/1922 gửi từ Mác-xây cho Nguyễn Ái Quốc ở Pa-ri, cụ Phan Châu Trinh đã chân thành bộc bạch: “Tôi tự ví thân tôi như con ngựa già hết nước kiệu, phi nước tế. Thân tôi tựa như chim lồng, cá chậu. Vả lại, cây già thì gió dễ lay, người già thì trí dễ lẫn. Cảnh tôi như hoa sắp tàn, hiềm vì quốc phá gia vong, mà hơi tàn cũng phải gào cho hả, may ra có tỉnh giấc hồn mê…”. Cuối thư, cụ vui mừng viết rằng Nguyễn Ái Quốc “như cây đương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hành, lý thuyết tinh thông”. Nhà chí sĩ tin “không bao lâu nữa cái chủ nghĩa Anh (NAQ) tôn thờ (ý chí chủ nghĩa Mác – Lênin) sẽ thâm căn cố đế (sâu rễ bền gốc) trong đám dân tình chí sĩ nước ta”.

Năm 1925, Phan Châu Trinh về nước và trước khi qua đời vào năm 1926, cụ thổ lộ với các đồng chí của mình như Lê Văn Huân, Huỳnh Thúc Kháng rằng “Sự nghiệp độc lập nước nhà trông cậy vào Nguyễn Ái Quốc”.

Vì sao Phan Châu Trinh tin cậy Nguyễn Ái Quốc? Tham gia hàng ngũ đấu tranh của công nhân Pháp, dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của Cách mạng Tháng Mười, Nguyễn Ái Quốc tham gia Đảng Xã hội Pháp và tham gia các hoạt động công nhân ủng hộ nước Nga Xô-viết. Tháng 7-1920, Người đọc Luận cương về các vấn đề dân tộc và thuộc địa của V.I.Lênin. Trong văn kiện, V.I.Lênin phê phán mọi luận điểm sai lầm của những người cầm đầu Quốc tế II về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, lên án mạnh mẽ tư tưởng sô vanh, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ích kỷ, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ của các Đảng Cộng sản là phải giúp đỡ thật sự phong trào cách mạng của các nước thuộc địa và phụ thuộc, nhấn mạnh sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản các nước tư bản với quần chúng cần lao của tất cả các dân tộc để chống kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến.

Tác phẩm của V.I.Lênin đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc con đường giành độc lập cho dân tộc và tự do thật sự cho đồng bào. Sau này, khi kể lại sự kiện quan trọng đó, Người đã nói: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc trở thành người cộng sản, một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp và đồng thời cũng là người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Vậy là, từ hành trình khảo sát, nghiên cứu thực tiễn chính trị và lý luận hằng chục năm ở nhiều nước, Nguyễn Ái Quốc đã đi đến kết luận dứt khoát: “Cách mạng có nhiều thứ”, “chủ nghĩa”, “học thuyết” cũng có nhiều nhưng chỉ có Cách mạng Tháng Mười Nga là thành công “đến nơi” và Chủ nghĩa Mác-Lênin là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất”. Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, muốn nước độc lập, dân được tự do, ấm no, hạnh phúc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản. Muốn có dân chủ hoàn bị, triệt để thì Tổ quốc phải độc lập và phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đất nước không có độc lập, thống nhất thì mọi thứ dân chủ chỉ là giả dối, chỉ là trò bịp bợm. Để đi đến mục tiêu ấy thì mỗi nước tùy theo điều kiện của mình mà có thể có những bước đi khác nhau. Người khẳng định, “tính chất thuộc địa và phong kiến của xã hội cũ Việt Nam khiến cách mạng Việt Nam phải chia làm hai bước. Bước thứ nhất là đánh đổ đế quốc, đánh đổ phong kiến, thực hiện “người cày có ruộng”, xây dựng chính trị và kinh tế dân chủ mới… Bước thứ hai là tiến lên chủ nghĩa xã hội, tức là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản”.

KHÔNG THỂ GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC BẰNG PHƯƠNG THỨC BẤT BẠO ĐỘNG

Qua những viện dẫn trên, một lần nữa phải khẳng định để giành độc lập dân tộc không thể không có “đấu tranh giai cấp”. Theo Mai Thái Lĩnh ca ngợi: “Phan Châu Trinh chủ trương giành độc lập qua hai bước và bằng phương pháp đấu tranh bất bạo động: Có thể nói trong khi hầu hết các đảng phái và các nhà yêu nước khác đều coi độc lập dân tộc là mục tiêu hàng đầu thì Phan Châu Trinh lại chủ trương giành độc lập bằng hai bước: trước hết đòi một chế độ tự trị (trong tiếng Anh gọi là dominion), sau đó mới tiến tới giành độc lập…”. Dẫn luận việc này, Mai Thái Lĩnh đã quá ấu trĩ, hão huyền khi cũng cả tin “con sói” thực dân dễ dàng buông lỏng chế độ cai trị để cho dân ta có được “chế độ tự trị”. Điều không tưởng chẳng bao giờ là hiện thực thì làm sao mà mơ mộng “tiến tới giành độc lập”! Chỉ với sự lựa chọn sáng suốt, hợp quy luật khách quan và lịch sử của Hồ Chí Minh mới là đúng đắn và khoa học. Đó là, để đi tới độc lập cho Tổ quốc, ấm no, tự do và hạnh phúc cho đồng bào, cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường Chủ nghĩa Mác-Lênin và tấm gương Cách mạng Tháng Mười. Đó là con đường xây dựng, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; con đường độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội. Lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại đã khẳng định con đường dân chủ mà Bác chính thức lựa chọn cho dân tộc ta từ những năm 20 của thế kỷ trước là đúng đắn. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là con đường thuận lòng dân, hợp thời đại và đúng quy luật phát triển của lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử dân chủ nói riêng. Đây là điều không phải theo kiểu “dân chủ tư sản” để Mai Thái Lĩnh vội vã: “Chúng tôi xác định Phan Châu Trinh là nhà dân chủ đầu tiên, và cũng là nhà dân chủ – xã hội đầu tiên của Việt Nam”… Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI tiếp tục khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực…”. Đến Đại hội XII, Đảng cũng nhấn mạnh nhiệm vụ, phương hướng: “Hoàn thiện, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; không ngừng củng cố, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường sự đồng thuận xã hội”.

Về chủ trương phát triển kinh tế đất nước, Mai Thái Lĩnh cho rằng Phan Châu Trinh “không chủ trương cải cách ruộng đất hay quốc hữu hóa, … ngày nay, có lẽ hầu hết các đảng cánh tả trên thế giới đều từ bỏ quốc hữu hóa, chấp nhận nền kinh tế thị trường thì chúng ta lại thấy chủ trương của ông là hoàn toàn đúng đắn, hoàn toàn phù hợp với thời đại hiện nay”. Có lẽ đây là sự so sánh hết sức thiếu biện chứng và khập khiễng, chúng ta không thể lấy điều kiện ngày nay áp đặt cho hoàn cảnh lịch sử 70 hay 30, 40 mươi năm về trước. Hơn thế nữa lại còn “bắn súng lục vào quá khứ” để phê phán, chì chiết vấn đề cải cách ruộng đất hay quốc hữu hóa. Mặt khác, không thể chấp nhận và cũng không bao giờ xảy ra khi xã hội còn phân chia giai cấp, vẫn tồn tại giai cấp bóc lột và giai cấp bị bóc lột mà lại thực hiện được chủ trương “lao tư lưỡng lợi” tức là người lao động cũng như nhà tư bản cùng có lợi… Nhận thức là một quá trình phủ định của phủ định và chưa bao giờ diễn tiến trên con đường thẳng… Chính vì vậy, chặng đường hơn 30 năm đổi mới vừa qua là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển của nước ta, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Phá bỏ tư duy quan liêu và bao cấp, Đảng ta đã sớm nhìn một số mặt hạn chế, yếu kém trong quá trình xây dựng đất nước để đề ra những giải pháp phù hợp, tích cực nỗ lực vươn lên trong hội nhập quốc tế. Đổi mới mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, triệt để, là sự nghiệp cách mạng to lớn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

VÌ SAO NƯỚC YẾU CÓ THỂ THẮNG NƯỚC MẠNH

Trở lại với lời Mai Thái Lĩnh: “Phan Châu Trinh chủ trương đấu tranh theo phương thức bất bạo động, nên nhiều người ví ông như Gandhi… Chủ trương của ông có thể tóm tắt như sau: nước ta là một nước yếu, nếu chống lại một kẻ mạnh (cường quốc) mà dùng vũ lực thì chắc chắn sẽ thất bại,…”. Có thể coi đây là suy diễn hàm hồ của người tự ti, yếm thế và nhu nhược. Thử hỏi Mai Thái Lĩnh đã đọc “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi tuyên cáo kết thúc cuộc kháng chiến chống quân Minh chưa? Nếu chưa thì hãy nghe và ngẫm nghĩ áng thiên cổ hùng văn, hào sảng giàu ý chí độc lập, tự cường: “… Như nước Đại Việt ta từ trước vốn xưng nền văn hiến đã lâu. Núi sông bờ cõi đã chia. Phong tục Bắc Nam cũng khác. Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập. Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương. Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau. Song hào kiệt thời nào cũng có”.

Xét về tương quan lực lượng giữa các triều đại phong kiến Việt Nam ới các triều đại phong kiến Đại Hán phương bắc trước đây thì mấy ai nói chúng ta mạnh hơn. Lịch sử đã minh chứng tuy là nước yếu, nước nhỏ nhưng với lòng yêu nước, ý chí quật cường dân tộc ta đã không thể nào “bất bạo động” mà phải:

“Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.
… Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo”.

Và dân tộc Đại Việt đã đánh cho quân xâm lược nhà Minh tan tác:
“Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng

Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần Vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh
Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run”.

     Vấn đề mạnh yếu chưa vội đặt ra nhưng đáng bàn là chính lòng tự tôn dân tộc mới là cội nguồn sức mạnh chiến thắng. Mai Thái Lĩnh còn lèo lái rằng “còn nếu như muốn thắng ta lại dựa vào sức mạnh của nước khác thì như vậy vô tình dẫn đến chỗ “quốc dân đồng bào chung quy vẫn nguyên cái lưng ngựa, chỉ thay người cưỡi mà thôi”. Nếu soi vào tình hình thực tế, nhiều người khoe là ta đánh Pháp, đánh Mỹ. Đánh Pháp đánh Mỹ ta lại dựa vào viện trợ của nước khác (của Liên Xô, của Trung Quốc) và bây giờ, mình chỉ là con ngựa, chỉ thay người cỡi”. Viết lời thật nham hiểm này, Mai Thái Lĩnh có tỏ tường rằng đánh Pháp đánh Mỹ, Việt Nam ghi nhận sự trợ giúp, viện trợ của các nước trong khối xã hội chủ nghĩa. Thế nhưng vũ khí, đạn dược chỉ là phương tiện, nó không thể thay thế cho khí phách, bản lĩnh, truyền thống mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc. Không nghe, không đọc hay ông Lĩnh cố tình không tiếp thu những điều thế giới và ngay cả nước Mỹ đã nói về sai lầm của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.

David Lamb, phóng viên chiến trường của hãng tin Mỹ UPI trong bài “Một trong những sai lầm lớn nhất của chúng tôi là không hiểu người Việt Nam” đã viết: “40 năm đã trôi qua nhưng thất bại trong cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn là nỗi ám ảnh đối với nhiều người Mỹ. Vì sao một cường quốc kinh tế và quân sự hàng đầu thế giới lại không thể khuất phục một nước Việt Nam bé nhỏ, nghèo nàn và vừa trải qua cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp? Nhiều lý do được đưa ra nhưng một yếu tố mà người Mỹ không thể không nhắc đến là ý chí đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.

… Những quân nhân Mỹ trực tiếp tham chiến chính là những người hiểu cuộc chiến và đối thủ hơn ai hết. Cựu Đại tá Mỹ Andres Sauvageot đã ở Việt Nam 9 năm trong thời kỳ chiến tranh trong vai trò cố vấn cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Là một quân nhân chuyên nghiệp, ông sang Việt Nam theo mệnh lệnh của cấp trên nhưng không hề biết chút gì về lịch sử Việt Nam, không hề biết rằng Việt Nam là nạn nhân của các cuộc xâm lược từ Trung Quốc, Pháp, Nhật rồi Mỹ.

Sau những năm tháng lăn lộn khắp nơi, tiếp xúc với những người dân Việt Nam trong đó có không ít chiến sỹ cách mạng, hiểu thêm về lịch sử, văn hóa và truyền thống của Việt Nam, Andres biết rằng đây là cuộc chiến mà người Mỹ không thể thắng.

“Đáng lẽ Tổng thống Nixon phải rút quân khỏi Việt Nam sớm hơn. Pháp hay Mỹ đều phải viễn chinh đến một đất nước xa xôi trong khi người Việt Nam chiến đấu ngay trên chính đất nước của họ vì độc lập, tự do của chính họ. Đây là sự khác biệt, nhất là khi Việt Nam có những con người anh dũng, yêu hòa bình, ghét chiến tranh nhưng nếu bị xâm lược, cho dù kẻ đó là ai, Trung Quốc, Nhật, Pháp hay Mỹ thì cuối cùng những kẻ đó cũng đều thất bại. Nếu sinh ra ở Việt Nam, tôi cũng sẽ đứng về phía cách mạng, sẽ không chấp nhận bất kỳ kẻ ngoại xâm nào”, ông Andres nói”.

Sự thật trắng đen phân minh vậy mà Mai Thái Lĩnh vẫn chưa dừng lời xiên xẹo rằng vì có sự viện trợ đánh Mỹ của Trung Quốc mà Bây giờ người cỡi trên lưng dân Việt Nam là Trung Hoa cộng sản”.

Phan Châu Trinh là một chí sĩ với tinh thần yêu nước nồng nàn, suốt đời gắn bó với vận mệnh đất nước, với cuộc sống sôi nổi, gian khó và thanh bạch, ông xứng đáng để hậu thế ngưỡng mộ, noi theo. Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, đứng tên trên bản đồ thế giới vào ngày 2/9/1945, đặc biệt là qua hơn 30 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã dày công trong công cuộc đồng bộ nâng cao việc “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” như chủ trương Phan Châu Trinh đã đặt ra. Chính vì vậy, lương tri những người Việt Nam chân chính rất bất bình trước những người mượn danh, uy tín của nhà chí sĩ yêu nước khả kính để bàn chuyện đi ngược lại mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà đất nước ta, nhân dân ta đã lựa chọn; xuyên tạc và phủ nhận công cuộc đổi mới đưa đất nước phát triển của Đảng. Chúng ta có quyền tự hào rằng đến nay tuy còn đối đầu với nhiều khó khăn, thách thức nhưng: Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển. Chính trị – xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hóa – xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao… Những thành tựu đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Chân lý là vậy, thế mà Mai Thái Lĩnh với rắp tâm cổ súy cho đa nguyên, đa đảng; rắp tâm kích động phải “học tập chế độ dân chủ của phương Tây” để gieo rắc căn bệnh hoài nghi “đất nước làm sao có thể phát triển, làm sao có thể giữ vững được nền độc lập?”. Lẽ ra phải “uốn lưỡi bảy lần trước khi nói” nhưng ông ta không được vậy. Về chế độ dân  chủ của phương Tây, Mai Thái Lĩnh có hay: Đôi năm trước, dư luận phương Tây từng chỉ ra xu hướng chán chường chính trị. Thí dụ, trên cổng thông tin Statista, một trong những trang mạng thống kê lớn nhất trên Internet, người quan tâm có thể đọc dữ liệu về kết quả thăm dò dư luận do Viện Bertelsmann – Stiftung (Bet-the-sơ-man) thực hiện. Khi được hỏi, tại sao lại chán chường chính trị, 61% số người được hỏi trả lời: không thể đồng cảm với những gì đang xảy ra trong chính trị; 54%: trong chính trị hay lừa đảo; 46%: quan tâm hơn tới các vấn đề khác; 45%: có cảm giác không thể tác động được gì; 38%: thất vọng với chính trị và các chính trị gia.

Không ai phủ nhận thực tế, trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, hoàn thiện xã hội và nâng cao đời sống mọi mặt của con người,… Việt Nam đã và đang học hỏi kinh nghiệm của nhiều nước, trong đó có các nước phương Tây, đặc biệt là học hỏi để xây dựng hệ thống nhà nước pháp quyền, xây dựng và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, học hỏi như thế nào cũng cần nhận biết một cách khách quan về khó khăn, trở ngại, cần vận dụng sáng tạo, phù hợp với điều kiện cụ thể như: sự lựa chọn xu hướng phát triển, hoàn cảnh lịch sử, truyền thống văn hóa,… Chúng ta không chấp nhận một nền dân chủ bị áp đặt từ bên ngoài, hoặc là mô phỏng một cách máy móc, bất chấp các đặc điểm riêng. Và cũng cần lưu ý tới hiện tượng “ngọn cờ dân chủ” trở thành chiêu bài để gây chiến tranh, hoặc làm xã hội rối loạn, bất ổn như đã xảy ra ở I-rắc, Áp-ga-ni-xtan, Li-bi,…

Thay vì “uốn lưỡi bảy lần trước khi nói” nhưng Mai Thái Lĩnh đã… trả lời phỏng vấn “liều lĩnh” đến mức như trên, thì than ôi ông hãy sớm dừng thói tự “lăng –xê” mạo xưng là nhà nghiên cứu “muốn giữ tính độc lập, khách quan”, nhà dân chủ, nhân quyền vì luận điệu của ông cũng chỉ lừa bịp, ru ngủ được dăm người mà thôi!

Nhân Đà

ĐỪNG GIẢ ĐUI, GIẢ ĐIẾC


Trong khi Nhân dân cả nước đang dốc lòng, dốc sức xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc thì các thế lực thù địch lại muốn kìm hãm sự phát triển.  Chúng quan niệm rằng: “Dân an, Đảng tín, Xã hội phú cường” là đồng nghĩa với sự thất bại của chúng trên con đường bài Đảng, thực hiện đa nguyên. Chúng dùng nhiều thủ đoạn đánh vào lòng tin, tạo sự bất an trong Nhân dân về con đường đi lên CNXH bằng những viện dẫn gượng ép, thổi phồng và so sánh khập khiễng. Một trong số đó, có bài viết mới đây của người có tên Minh Quân, phát tán trên Blog badamxoevietnam2.wordpress.com với nhan đề: “Thủ tướng Dũng để lại ‘đống rác’ bội chi đến thế nào?”. Minh Quân viết:

“…khi Nguyễn Tấn Dũng “thất thủ”, Bộ Tài chính liền công bố tỷ lệ bội chi ngân sách 2015 lên đến 6,1% GDP.

Còn bây giờ, sau khi đã quyết toán, số bội chi 2015 là 6,28% GDP, chỉ thấp hơn đôi chút mức kỷ lục về bội chi ngân sách 6,6% GDP của năm 2013 – cũng vào đời Nguyễn Tấn Dũng….

Vào cuối cái năm 2015 ấy, dư luận xã hội Việt Nam đã nóng bừng với hiện tượng hàng loạt trụ sở hành chính có giá trị lên đến 3.000 – 10.000 tỷ đồng ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Khánh Hòa, Hải Phòng… Trong số đó, có cả những địa phương phải thường xuyên xin gạo cứu đói cho dân như Nghệ An, Hà Tĩnh, Khánh Hòa, nhưng không nương tay khi rút rỉa tiền ngân sách xây trụ sở hành chính.

Nhưng khi Bộ Trưởng Kế Hoạch Đầu Tư Bùi Quang Vinh bật ra một câu nói thật hiếm muộn trong trạng thái bức xúc hiếm thấy tại kỳ họp Quốc Hội hồi Tháng Mười 2015 rằng, tiền trong ngân khố nhà nước cho dự toán năm 2015 chỉ còn vẻn vẹn 45.000 tỷ đồng mà “không biết phải làm gì, chưa nói đến phải trả nợ. Trả nợ xong gần như không có tiền để làm gì cả,” sự thật đã từ trong chăn vọt ra, vào lúc tình cảnh ngân sách trở nên nguy ngập từ dưới lên và cả từ trên xuống.

Khác hẳn vài năm trước, giờ đây ngân sách Trung ương đang cực kỳ khốn quẫn. Ngân sách này chỉ có thể lo việc chi trả lương và một ít đề mục về an sinh xã hội, còn đa phần “đầu tư phát triển” phải tiết chế đến mức tối thiểu. Sau trào lưu xây trụ sở và tượng đài từ ngàn tỷ đến chục ngàn tỷ vô tội vạ và vô liêm sỉ trong những năm trước, đến giờ ngân sách tìm ra một ngàn tỷ đồng để chi đã là khó khăn. Rất dễ hiểu là nếu chấp nhận dự án điện hạt nhân Ninh Thuận hay dự án đường cao tốc Bắc – Nam, ngân sách sẽ phải cắm đầu vay vốn nước ngoài với lãi suất cao và do đó sẽ càng làm nặng gánh nợ công quốc gia – vốn đang phi mã đến hàng trăm phần trăm GDP.

Minh Quân mà “không quân minh” khi phản ánh vấn đề với những con số lập lờ và thiếu cái nhìn bao quát. Xin nói rõ để Minh Quân hiểu: Bội chi ngân sách Nhà nước 2015 là 256 ngàn tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 6,1% GDP; Năm 2016, tổng chi ngân sách Nhà nước là 1.135,5 nghìn tỷ đồng, bằng 89,2% dự toán năm, bội chi 192,2 ngàn tỷ đồng, xấp xỉ 5% GDP. Trong đó, chi cho sự nghiệp phát triển kinh tế, quản lý hành chính, quốc phòng an ninh gần 70%; chi trả nợ năm 2016 vào khoảng 150.000 tỷ (chiếm 13%); chi đầu tư phát triển là 190.000 tỷ đồng (chiếm 16,7%). Như vậy, có thể thấy, bội chi ngân sách Nhà nước chưa kịch trần so với con số mà Quốc hội thông qua; trong đó, ngân khoản chi(có cả bội chi) tập trung quốc kế dân sinh, đầu tư phát triển và quốc phòng an ninh.

Nói về nợ công, theo báo cáo của Bộ Tài chính đến cuối năm 2016, dư nợ công khoảng 64,73% GDP, dư nợ Chính Phủ khoảng 53,62%. Hai con số này dù cao nhưng vẫn dưới ngưỡng 65% GDP, nợ Chính phủ không quá 54% GDP đề ra trong Nghị quyết về kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm giai đoạn 2016 – 2020. Như vậy, dù đã tiến sát trần nợ cho phép nhưng không đến mức “dầu sôi, lửa bỏng”, “nguy ngập” với “tốc độ phi mã hàng trăm phần trăm” như Minh Quân căng sức thổi phồng. Xin nói thêm rằng, bội chi ngân sách và nợ công không nước nào không có; đây là một trong những yếu tố được coi là động lực phát triển của mỗi một quốc gia. Vấn đề ở chỗ anh kiểm soát nợ công như thế nào? Những khoản nợ công đầu tư vào đâu? hiệu quả hay không hiệu quả? có sinh lợi về vật chất và tinh thần cho đất nước, Nhân dân hay không?

Xin viện dẫn vài con số về nợ công trên thế giới để Minh Quân có tầm nhìn bao quát hơn: Pháp, trụ cột Châu Âu, tỷ lệ nợ công chiếm 93,9% GDP; Tây Ban Nha 93,9%; Singapore, con rồng Châu Á, tỷ lệ nợ công/GDP: 103,8%; Mỹ, nền kinh tế lớn nhất thế giới tỷ lệ nợ công/GDP: 104,5%; Bồ Đào Nha: 128,8%; Ý: 132,5%; Hy Lạp: 173,8%; Nhật Bản, nền kinh tế lớn thứ ba thế giới, tỷ lệ nợ công /GDP: 243,2% và nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới – Trung Quốc, tỷ lệ nợ công cũng không hề thua kém Nhật Bản 245% GDP.

Dẫn chứng trên cho thấy những con số mà Minh Quân đưa ra không mấy thuyết phục cùng những luận bình theo lối áp đặt chủ quan, thiếu thực tế, sai về bản chất. Đã vậy, Minh Quân lại dẫn dắt vấn đề tới câu chuyện chính trị: “Một hiện tượng đặc thù “định hướng xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam luôn là sự xa hoa tột đỉnh đối lập với giai tầng giá áo túi cơm: làm thế nào có thể lý giải được những chiến dịch chi đậm của ngân sách cho những con đường có giá thành đắt nhất hành tinh và hàng chục công trình trụ sở công quyền có giá đến hàng ngàn tỷ đồng hoặc hơn, với hình ảnh thịt chuột biến thành bữa ăn của trẻ em vùng xa cùng những người dân nghèo chết thảm khi đu dây qua suối dữ?

Rõ ràng đây là một sự so sánh vô cùng khập khiễng, lộ rõ mục đích của bài viết là vấn đề chính trị mà cụ thể là chế giễu “định hướng XHCN”. Cần khẳng định rằng sự giàu, nghèo trong xã hội là quy luật tự nhiên của sự phát triển. Nó là hai mặt đối lập trong cơ thể của mỗi một quốc gia, dân tộc. Nó không phải là cái bất biến mà luôn vận động, biến đổi. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời” là vì lẽ đó. Ở đây, xin nói thêm rằng: Việt Nam là một trong số ít quốc gia thực hiện chính sách giảm nghèo hiệu quả nhất thế giới. Nỗ lực này được quốc tế công nhận và nó thể hiện rõ tính “định hướng XHCN”. Đối với những con đường đắt nhất hành tinh, khoản tiền đầu tư gọi là đắt nhất đó phần lớn là khoản tiền đền bù cho dân và không ai khác dân là người thụ hưởng cả về vật chất lẫn tinh thần. Minh Quân viện dẫn rằng nợ công “nóng bừng với hiện tượng hàng loạt trụ sở hành chính có giá trị lên đến 3.000 – 10.000 tỷ đồng…” trong khi đây là mô hình khu hành chính tập trung đem lại nhiều tiện ích cho dân, tránh lãng phí thời gian đi lại cho nhân dân, tránh cả sự lãng phí sử dụng đất đai cũng như các loại tài sản, phương tiện khác phục vụ nền hành chính công…Hơn nữa, nguồn kinh phí xây dựng khu hành chính tập trung được lấy từ nguồn đất bán trụ sở, sau khi xây dựng xong vẫn còn dư nhiều cho ngân sách Nhà nước. Cách làm này hoàn toàn có lợi cho dân, cho ngân sách, được Nhân dân đồng tình sao lại nói tốn kém hàng ngàn tỷ đồng.

Đồng ý rằng, đâu đó, vùng sâu, vùng xa vẫn còn có những khó khăn, vẫn còn có những cây cầu tạm bắc qua sông, qua suối nhưng đừng vô cảm lấy sự hiển nhiên khó tránh khỏi để phủ nhận những thành tựu của đất nước được làm nên từ trí tuệ và công sức của Nhân dân, trong đó có hàng triệu cây cầu vững chắc được xây dựng từ nguồn ngân sách Nhà nước, từ các tổ chức kinh tế, và các nguồn huy động của các đoàn thể chính trị, xã hội mà chỉ có những kẻ giả đui, giả điếc như Minh Quân mới không nghe, không biết.

Thạch Lâm

“TUYÊN GIÁO TỰ VẢ VÀO MỒM” HAY “VƠM TỰ TÁT VÀO MẶT”


Trang Blog badamxoevietnam2.wordpress.com phát tán bài “Có ‘âm mưu’ gì trong vụ Đinh La Thăng hay không?”. Bùi Quang Vơm viết: “Tuy vậy, trên thực tế, không phải cứ lúc nào có kỷ luật, khi đó có thanh trừng hay trấn áp phe cánh. Phe mạnh thường tự gọi mình là phe “có chính nghĩa” theo một khái niệm nào đấy, trong bối cảnh nào đấy và trong một thời đoạn nào đấy. Kỷ luật khi đó có tính cách bảo vệ chính danh và không chấp nhận bị gọi là thanh trừng nội bộ, thậm chí còn là bộc lộ thế hơn hẳn của một phía nào đấy.

Vì lẽ đó, trước khi xét bản chất của một kỷ luật, phải xem có hiện tượng phe cánh không, và phe cánh là gì? Người ta chỉ dùng cụm từ “phe cánh” để chỉ các cụm người gắn kết với nhau vì một lợi ích chung thuộc loại “bất hảo”, còn nếu chỉ để đề cập sự khác biệt giữa lực lượng nào đấy chống lại một nhóm “bất hảo” nào đấy, thì người ta không gọi là thanh trừng phe cánh.

Vụ kỷ luật Đinh La Thăng, nếu có thể nằm trong một âm mưu, thì ít nhất, họ Đinh phải mang một chút chính nghĩa nào đó, và hiện hữu một lực lượng đang sở hữu một thứ chính nghĩa nào đó ủng hộ và công khai bênh vực ông ta. Khi đó, cái gọi là bộ chính trị đảng, người đã thực hiện kỷ luật ông Thăng không có chính danh, hoặc chỉ có một thứ chính danh mập mờ. Nhưng không thấy có ai nói ông Thăng bị oan, và chẳng có nhóm người nào công khai lên tiếng bênh vực. Vậy là ông Thăng không có chút chính nghĩa nào và cũng có nghĩa là ông Trọng không cần phải có âm mưu mới kỷ luật được ông.

Tuy nhiên, chúng ta gặp khó khăn vì trên mặt truyền thông đại chúng công khai, đảng cầm quyền không cho phép phổ cập sự thật. Người ta chỉ được biết đến một ông Đinh năng nổ, trực tính, sốc vác, lăn lộn, sâu sát quần chúng, cương quyết với tiêu cực, miệng nói tay làm, v.v… còn những chuyện ông ta là thủ phạm của vụ tiêu tán hàng tỷ đôla của công quỹ, gây thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng khác cho nền kinh tế, thì một mặt, được coi là việc chuyên môn của cơ quan điều tra, của cơ quan tư pháp, chỉ có thể công khai khi đủ điều kiện, một mặt khác, công khai những cái xấu của cán bộ đảng không phải là việc ưa thích, thậm chí còn là việc cấm kỵ của cơ quan tuyên giáo.

Nhưng cũng là lỗi của Tuyên giáo, vì tuyên truyền tạo dáng cho một nhân vật, rồi lại “đúng đắn sáng suốt” khi kỷ luật cách chức anh ta, thì giống như tuyên giáo, hay chính đảng tự vả vào mồm mình.

Thông tin với Bùi Quang Vơm rằng, hiện nay Việt Nam có trên 900 cơ quan báo chí; 95 báo điện tử và hàng ngàn trang tin điện tử; trên 17.000 nhà báo, thêm vào đó có hàng chục triệu người sử dụng điện thoại thông minh và họ được quyền bày tỏ suy nghĩ trước sự kiện, sự việc, vấn đề mà họ quan tâm. Báo chí Việt Nam không hề bị kiểm duyệt, hoạt động tuân theo quy định của pháp luật. Các cơ quan chức năng của nhà nước, các cấp có thẩm quyền hoàn toàn không can thiệp hay áp đặt thông tin.

Đảng, Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho báo chí chống tham nhũng và xác định đó là mặt trận không thể thiếu của báo chí trong bài trừ tham nhũng. Nhưng chống tham nhũng phải đảm bảo trung thực, đúng sự thật với chứng lý rõ ràng, chứ không phải chống theo kiểu “nghe rồi nói” mà không có sự thẩm định, không cần chứng lý. Đảng và Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng chống tham nhũng vì mục đích cá nhân…Thực tế, hơn 3 thập niên qua báo chí đã thể hiện rất tốt trách nhiệm của mình trên mặt trận này, nhiều vụ án đã được phanh phui, nhiều đảng viên đã phải ra trước vành móng ngựa và phải nhận những bản án thích đáng với tội trạng của mình.

Báo chí cách mạng là một trong những binh chủng tuyên truyền, vừa phản ánh hiện thực xã hội, vừa có nhiệm vụ định hướng dư luận và có mối liên hệ với tuyên giáo; với những gì báo chí đã làm chứng minh rõ ràng rằng: Công khai những cái xấu của cán bộ, đảng viên hoàn toàn không phải là việc cấm kỵ của cơ quan tuyên giáo như Bùi Quang Vơm nói.

Trong xử lý kỷ luật Ủy viên BCT Đinh La Thăng, Bùi Quang Vơm cho rằng “cũng là lỗi của Tuyên giáo, vì tuyên truyền tạo dáng cho một nhân vật, rồi lại “đúng đắn sáng suốt” khi kỷ luật cách chức anh ta, thì giống như tuyên giáo, hay chính đảng tự vả vào mồm mình.” Tuyên giáo không tạo dáng cho đồng chí Đinh La Thăng mà chính lòng dân tôn sùng, ngưỡng mộ. Rõ ràng, từ khi làm Bộ trưởng Giao thông vận tải, đồng chí Đinh La Thăng là một nhân tố điển hình đã nói là làm; làm quyết liệt và thực tế trong nhiệm kỳ của mình, đồng chí Đinh La Thăng đã làm được khá nhiều việc cho dân, cho nước, trở thành biểu tượng mẫu mực cho sự xông xáo, gần dân. Bùi Quang Vơm đừng vô cảm nhẫn tâm phủ nhận! Tuy nhiên, công trạng đó không thể “chuộc lại” những thiệt hại nghiêm trọng từ những sai phạm của đồng chí trong thời gian 3 năm trước đó. Dư luận cảm thấy tiếc cho một con người nhưng thừa nhận không thể còn đường nào khác. Ở đây, nên hiểu rằng, lòng dân phân minh, ý Đảng công tâm; thưởng phạt rạch ròi, có như vậy thì kỷ luật Đảng mới được thượng tôn; kỷ cương phép nước mới được giữ gìn.

Qua cách viết của Bùi Quang Vơm, có thể thấy Vơm nhìn nhận việc kỷ luật Đinh La Thăng không như những đồng bè. Nhưng đáng tiếc là Vơm đã lái vấn đề qua một hướng khác, thể hiện sự non kém tư duy thông tin, tuyên truyền. Vơm cho rằng: Nếu đã tuyên truyền điển hình mà theo Vơm là do tuyên giáo (tạo dáng cho một nhân vật) thì không được phản ánh cái xấu, cái vi phạm của nhân vật đó; làm như vậy, có nghĩa là “tuyên giáo hay chính Đảng tự vả vào mồm mình”. Rõ ràng đây là một nhận thức quá lỗi thời; vì nhận thức lỗi thời nên chẳng khác nào chính Bùi Quang Vơm tự tát vào mặt mình khi độc hành trong đại lộ thông tin đa chiều hiện nay.

Hoài Trung

THOI THÓP LUẬN ĐIỆU KÍCH ĐỘNG GÂY HẬN THÙ DÂN TỘC


Ngày 30/4/2017 đã qua trong không khí nhân dân cả  nước long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm 42 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Mốc lịch sử 30/4/1975 đánh dấu thắng lợi của ý chí độc lập tự do, của tinh thần dân tộc thống nhất – “sông có thể cạn, núi có thể mòn” nhưng không thể chia cắt đất nước của nhân dân Việt Nam. Đó là dấu khép lại của một thời khói lửa chiến tranh và khép lại quá khứ, hướng tới tương lai mở ra một trang mới trong lịch sử Việt Nam – giai đoạn hòa bình, thống nhất, xây dựng đất nước.

Cố tình đi ngược dòng lịch sử và ra sức phủ nhận ý nghĩa, giá trị to lớn của Chiến thắng 30/4/1975 – được nhân loại và những người yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên toàn thế giới ngưỡng mộ, thời điểm này, trên các trang mạng xã hội vẫn xuất hiện những bài viết đầy tâm thế hằn học, xuyên tạc, gây kích động hận thù dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phủ nhận thành quả công cuộc đổi mới đất nước… Một trong những bài viết độc hại và phải được nhận diện chân tướng “chống phá” Đảng và Nhà nước ta là bài của một người (trong bài viết này tôi không tiện nói ra để giữ chút thể diện để cho ông còn có dịp suy nghĩ, hồi tỉnh và quay về với lẽ phải, “con đường sáng” của dân tộc vì ông cũng từng vinh dự là đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam) với tít “Ngày 30 Tháng Tư” đăng trên “vandoanviet.blogspot.com” với nội dung nhìn nhận cực kỳ phiến diện, áp đặt.

     Không lấy gì làm ngạc nhiên về sự xuất hiện như “nấm dại sau mưa” của loại bài viết như thế song chúng ta không thể chấp nhận những con người quay lưng, phủ nhận quá khứ, lịch sử dân tộc. Đó là Linh mục Đặng Hữu Nam (Nghệ An) lấy nhà thờ làm nơi rao giảng với những ngôn từ phỉ báng và phủ nhận hoàn toàn ý nghĩa của Chiến thắng lịch sử 30/4/1975, đánh đồng sự hy sinh anh dũng của các anh hùng liệt sĩ đã hiến dâng cả mạng sống của mình vì nền độc lập, tự do của dân tộc với cái chết của những kẻ theo giặc; điều đó không đúng với chức phận sống “tốt đời, đẹp đạo”, “kính Chúa, yêu nước” của một giáo sĩ Công giáo. Linh mục tuôn lời lẽ: “Ngày 30/4 hôm nay, cũng là ngày đất nước rơi vào thảm họa đau khổ cả miền bắc lẫn miền nam. 30/4, ngày đen tối nhất của dân tộc Việt Nam. Ngày làm đất nước tan hoang, làm đất nước lạc hậu, nghèo đói; 90 triệu dân mất tất cả, mất quyền con người, mất quyền tự do. Ngày đưa đất nước mất đi cơ hội để phát triển, trở nên nghèo đói, lạc hậu. Ngày đánh dấu đất nước chuẩn bị làm nô lệ cho ngoại bang”… Cũng  cùng duộc “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”,  với cách đặt vấn đề Vậy thực sự ngày 30 tháng tư, năm 1975 có phải là ngày nửa dải đất phía Nam của tổ quốc Việt Nam được giải phóng không?”,  tác giả bài “Ngày 30 Tháng Tư” đã thật trâng tráo khi xuyên tạc bản chất cuộc đấu tranh cách mạng 21 năm trường kỳ vượt qua gian khổ, hy sinh nhiều xương máu để giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước; từ đó cố tình áp đặt về bản chất, lý tưởng cao đẹp của Đảng với những lời “đổi trắng thay đen”. Ông ta viết: “… Ngày 30 tháng tư năm 1975 cả triệu người Việt Nam dù yêu nước cháy bỏng cũng phải bỏ nhà cửa, bỏ tài sản, bỏ cả mồ mả ông bà, bỏ nước ra đi. Ngày 30 tháng tư năm 1975 mang đến mất mát uất hận lớn như vậy cho cả triệu người Việt Nam làm sao có thể gọi là ngày giải phóng!”. Không hay dựa vào tiêu chí nào mà tác giả lên giọng “bốc thơm”, ca ngợi những người sống chẳng bao giờ vì lý tưởng độc lập, hòa bình của dân tộc mà chỉ là kẻ bám víu vào đồng USD của đế quốc; quen hưởng thụ bơ, sữa phương Tây, cầm súng đàn áp, bắn giết dã man đồng bào mình bỗng chốc hóa thành “cả triệu người Việt Nam yêu nước cháy bỏng”?… Mỉa mai thay cho lòng yêu nước vong bản đến độ “bỏ cả mồ mả ông bà, bỏ nước mà trốn chạy”… Con người từng cầm súng đánh Mỹ kia biết chăng trong số những người di tản dịp 30/4/1975 có không ít những bàn tay đã nhuốm máu, ám ảnh nặng nề bởi tội lỗi đã gây ra với nhân dân, đất nước; tư tưởng bị nhiễm độc quá nặng bởi bộ máy tâm lý chiến chính quyền Sài Gòn ra rả tuyên truyền áp đặt bôi đen những người Cộng sản (trong đó có ông) và chủ nghĩa xã hội… 42 năm đất nước thống nhất, lạ thay giờ đây vẫn có kẻ thoi thóp hà hơi tiếp sức cho tiếng nói lạc lõng gây chia rẽ hận thù đã quá cũ rích bằng cách ngụy biện “trốn chạy những người nhân danh là người yêu nước nhưng chỉ biết có ý thức hệ Cộng sản, trốn chạy những người mang chuyên chính vô sản sắt máu vay mượn từ nước ngoài về nô dịch cả dân tộc”. Từng được trui rèn bản lĩnh với lời thề: “Trung với Ðảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” thế mà “vị đại tá” vội trở chứng, phản bội chính mình, “bán linh hồn cho quỷ dữ”, nuối tiếc và muốn trở lại một thời miền Nam tiếp tục sống trong sự nô dịch của chủ nghĩa đế quốc. Ông ta hẳn phải biết tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ từng giữ cương vị Thủ tướng giai đoạn 1965-1967 và Phó Tổng thống giai đoạn 1967-1971 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Là người từng được coi là có tư tưởng chống cộng cực đoan nhưng kể từ năm 2004, ông được nhiều ý kiến đánh giá là một trong những biểu tượng của sự hòa hợp dân tộc. Kể từ năm 2004, ông Nguyễn Cao Kỳ đã về Việt Nam bốn lần…
 

Chiều 15/1/2004, trong chuyến lần đầu trở về Việt Nam kể từ năm 1975, ông Nguyễn Cao Kỳ đã có buổi trò chuyện với giới báo chí trong và ngoài nước. “Đây là lần đầu tiên tôi trở về Việt Nam sau 30 năm, còn hai tuần nữa tôi bước sang tuổi 75” – ông Kỳ mở đầu câu chuyện và tiếp tục: “30 năm trước tôi khóc vì tôi đã phải rời bỏ quê hương. Có thể nói đó là lần đầu tiên trong cuộc đời tôi khóc. Và khi tôi nhìn thấy TP.HCM từ trên máy bay trong lần trở về này thì cũng là lần thứ hai trong đời tôi nước mắt lại tuôn ra. Lại một lần khóc nữa vì tôi tìm lại quê hương”, ông Nguyễn Cao Kỳ đã khóc khi nhắc lại câu chuyện này. Ông Kỳ cũng thừa nhận, chuyến về của ông gây nhiều dư luận: đồng tình và không đồng tình đều có. “Những nhóm người hải ngoại ở Mỹ quen sống “kiểu Mỹ” cho nên vấn đề gì họ cũng có thể có ý kiến chống đối. Tôi sống gần họ nên tôi hiểu đa số người Việt Nam trầm lặng ở hải ngoại họ rất thông cảm và chấp nhận những gì mà tôi đã nói và đề cập về quê hương. Những nhóm chống đối đó chỉ là thiểu số và bản thân tôi cũng chẳng bao giờ thèm để ý. Tôi cũng muốn nói thêm rằng những người mà giờ phút này, sau 30 năm khi đất nước đã thống nhất và đây là lúc cần sự tập hợp của tất cả người Việt Nam trong cũng như ngoài nước để phục hưng đất nước, để Việt Nam trở thành một con rồng châu Á. Thế mà lại có những kẻ vẫn muốn quay về chuyện dĩ vãng. Chuyện không tưởng”… Chưa hết, xin thêm một nhân chứng nữa là có viên trung tướng thời chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, định cư ở nước ngoài và gần đây trở lại, chứng kiến sự đổi thay tích cực, tiến bộ của đất nước, xã hội Việt Nam đã từng than: Cũng may là Cộng sản giải phóng Sài Gòn, chứ chúng tôi (chính quyền Sài Gòn) mà chiếm được Hà Nội thì với bản chất ngụy quân, ngụy quyền sẽ không tưởng tượng nổi đã gây ra tang thương, cảnh nồi da nấu thịt như thế nào!…

Không chịu “quay đầu là bờ” và chìm đắm trong cõi u mê nên “vị đại tá” mới xàm ngôn: “Từ 30 tháng tư năm 1975, người Việt Nam bị chia rẽ đau đớn và sâu sắc nhất chưa từng có trong lịch sử hiển hách bốn ngàn năm dựng nước của dân tộc Việt Nam”.

Dù cố gắng đánh bóng bản thân cao đạo nhưng “cái đuôi” của tác giả cũng lòi ra khi tự nhận mình là “những người Việt Nam chân chính” và “phải nhận lấy nỗi buồn lịch sử, phải nhận lấy trách nhiệm lịch sử: Đấu tranh đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi nô dịch Cộng sản và giành lại những mảnh đất thiêng liêng của tổ tiên người Việt đã bị mất mát, sang nhượng cho bành trướng Đại Hán dưới thời Cộng sản”. Huỵch toẹt tư tưởng kích động gây hận thù dân tộc và rắp tâm xuyên tạc, chống phá mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đến mức này thì đã đến lúc pháp luật sớm ra tay.

Trên thế giới và nhất là những năm gần đây với thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Cộng sản, nhân loại không lạ gì những luận điệu lợi dụng truyền thông, mạng xã hội nhằm gây hận thù (hate speech), kích động lật đổ, bạo loạn, gây rối an ninh chính trị, trật tự xã hội ở nhiều quốc gia… Theo Ủy ban châu Âu (EC), có thể hiểu “hate speech” gồm các hình thức phát ngôn gieo rắc hoặc ủng hộ sự thù hận sắc tộc, bài ngoại, cũng như những phát ngôn sỉ nhục, kỳ thị do thiếu khoan dung đối với sự khác biệt… Theo nghiên cứu của Chương trình nghiên cứu internet và xã hội (VPIS), các trường hợp phát ngôn gây thù ghét của người sử dụng mạng thể hiện tập trung: nói xấu, phỉ báng (61,7%); vu khống, bịa đặt thông tin (46,6%)… Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 16/12/1996), tại khoản 2, Điều 20 nêu rõ: “Mọi chủ trương gây hận thù dân tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo để kích động sự phân biệt đối xử về chủng tộc, sự thù địch, hoặc bạo lực đều phải bị pháp luật nghiêm cấm”… EC cho rằng, mỗi quốc gia cần đưa ra các đạo luật nhằm hạn chế và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn những phát ngôn đi quá giới hạn vì chúng được coi là “lạm dụng” quyền tự do ngôn luận. Vừa qua, Quốc hội Nhật Bản cũng vừa thông qua luật ngăn chặn phát ngôn thù hận (bao gồm sự bôi nhọ hoặc đe dọa người khác trên mạng xã hội). Tại khoản 1, Điều 5, Nghị định 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng các hành vi bị nghiêm cấm có quy định không được “Lợi dụng việc cung cấp, sử dụng internet và thông tin trên mạng nhằm mục đích: a. Chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tuyên truyền chiến tranh, khủng bố; gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo…”.

     Dựa trên Công ước quốc tế và Nghị định Chính phủ Việt Nam ban hành, chúng ta cần có biện pháp đấu tranh kiên quyết, triệt để và phải xử lý bằng pháp luật những người, những luận điệu gây kích động hận thù dân tộc và chống phá Nhà nước như tác giả bài “Ngày 30 Tháng Tư” đã xàm ngôn trên vandoanviet.blogspot.com!

Đà Văn

VŨ THẠCH, NGUYÊN HÌNH KẺ PHẢN ĐỘNG LƯU MANH


Trang blog http://bongbvt.blogspot.com có bài “Tiến trình bạo lực hóa xã hội” của Vũ Thạch.

Vũ Thạch viết: “Có lẽ ít ai ngạc nhiên về biến thái này, vì lời dạy “bạo lực cách mạng” của Lênin, hay lời dạy “sức mạnh từ nòng súng” của Mao Trạch Đông đã là một phần kinh điển nền tảng của Chủ nghĩa Xã Hội Hiện thực từ ngày ra đời. Nhưng câu hỏi vẫn cần đặt ra: Ai sẽ là nạn nhân của bạo lực hóa xã hội? 

Để trả lời câu hỏi này, một số đặc tính về vòng xoáy bạo lực hóa xã hội cần được nhận dạng:

Trước hết, một khi tiến trình bạo lực hoá xã hội đã khởi động và bắt trớn, sẽ rất khó có thể dừng nó lại, vì nhiều lý do:

(1) Đã có “thù” thì phải có “trả thù” và phải có “trả trả thù” … Hơn thế nữa, mỗi mức trả thù đều đòi hỏi phải làm đối phương đau đớn hơn mình nữa thì mới “đã tức”, “đã hận”. Và cứ thế mà nhân lên.

(2) Càng có nhiều oán hận tràn ngập, càng có nhiều người vứt bỏ sự ràng buộc của luân lý, của đạo đức tôn giáo. Đơn giản vì “đạo đức chỉ làm thiệt hại chính mình”. Sức tự chế và khuyên can ngày càng vô nghĩa.

(3) Sản sinh ngày càng nhiều những người theo nghề trả thù thuê, đúng với tên hiệu “đâm thuê chém mướn”. Loại người này đang ngày càng “chuyên môn” hơn nhờ các công nghệ mới và đặc biệt các móc nối với công an.

Kế đến, một khi tiến trình bạo lực hoá xã hội đã khởi động và bắt trớn, nó sẽ lan tỏa vào mọi mặt đời sống, mọi ngõ ngách xã hội, mọi người, mọi giới. Hiện nay, bạo hành không chỉ thấy tại các đồn công an hay các quán nhậu, mà nay đã nhan nhản ở cả các gia đình, các trường mầm non, các nơi thờ tự… Lý do đơn giản là khi đã thấm vào con người, tức khi bạo hành đã trở thành một phần “bình thường” trong cá tính, thì nơi nào có mặt con người nơi đó có bạo hành.

Rồi khi bạo hành đã tràn lan mọi mặt xã hội, thì TẤT CẢ đều là nạn nhân dự bị, không chừa một ai.

Nhưng đặc biệt, vòng xoáy bạo hành luôn tìm về những kẻ khởi động và có khả năng bạo lực lớn nhất, tức chính các quan chức đảng, và gia đình họ. Lý do khá hiển nhiên là vì các kẻ bạo hành nhiều nhất sẽ có nhiều kẻ thù nhất và trở thành tiêu điểm chờ trả thù lớn nhất. Và nếu không trả thù trực tiếp lên họ được, kẻ thù sẽ nhắm vào gia đình họ làm đích trả thù kế tiếp. Hơn thế nữa, các quan chức thường đưa những tài sản mà họ thu tóm được cho gia đình đứng tên hay tẩu tán, nên gia đình họ đương nhiên trở thành tâm điểm oán hận của những nạn nhân bị mất tài sản. Trong lúc các quan chức đang nắm quyền có thể có lực lượng bảo vệ hữu hiệu, thì gia đình họ không thể núp mãi trong nhà, vẫn phải đi học, đi làm, đi chợ, giữa dòng xã hội và vì thế KHÔNG THỂ được bảo vệ 24/7, đặc biệt đối với các dịch vụ “trả thù thuê” chuyên nghiệp”.

Dù được che đậy bởi những văn từ bóng bẩy và những lý lẽ tưởng chừng rất logic nhưng Vũ Thạch, kẻ viết bài này không thể giấu dã tâm của mình khi hướng xã hội tới viễn cảnh vòng xoáy bạo lực.

Không phủ nhận rằng bạo lực xã hội không đâu không có; không thời nào không có và dù có văn minh, hiện đại đến đâu, tình trạng bạo lực xã hội vẫn cứ tồn tại, gieo rắc bi thương cho xã hội. Ngay cả một nước văn minh như Mỹ, chỉ tính riêng bạo lực học đường, đã chiếm tới hơn 29% học sinh bị bạo lực bằng hình thức đánh đập, hay hiền hòa, văn minh như đất nước hoa Anh Đào – Nhật Bản cũng không thiếu bạo lực mà mới đây nhất là vụ án giết cô bé Việt mới 9 tuổi đầu.

Vũ Thạch không sai khi đề cập đến vấn đề bạo lực, bạo hành xã hội với những gì đã diễn ra hàng ngày, thậm chí là hàng giờ trên toàn thế giới này. Nhưng cái không đúng của Vũ Thạch là đã dụng cái thiểu số để trùm lên cái đa số, vẽ ra viễn cảnh toàn cầu nặng màu u ám. Nguy hiểm hơn, thay vì kêu gọi hướng thiện, thì Vũ Thạch lại hướng con người tới bạo lực, hành xử trả thù kiểu xã hội đen bằng mã tấu, dao, búa. Và mục tiêu cho sự trả thù này là “cán bộ của Đảng” và gia đình của họ.

“Thưa”với Vũ Thạch rằng: Thói đời xưa nay, ân oán là chuyện thường xảy ra. Người dở không ưa người hay, người lười biếng không ưa người chăm chỉ, người hay làm trái không ưa người nói lẽ phải, người nghèo hèn không ưa người giàu sang…Sự không ưa đó kéo theo nó lòng đố kỵ, ganh ghét, thù hằn. Bạo lực xã hội không chỉ có ở nơi đô thị mà còn hiện hữu ở vùng nông thôn. Một ánh mắt nhìn không khéo cũng sẽ trở thành nguyên cớ cho hành vi bạo lực; tranh giành vài ba mét đất cũng dễ dẫn đến ẩu đả bằng dao, mã tấu. Bạo lực xã hội, đó không phải là chuyện mới, nó là một phần của thuộc tính con người. Bởi vậy, cách đây hơn 350 năm trước Công nguyên, Mạnh Tử đã nói “Nhân chi sơ tính bổn thiện”, gắn với nó là chuyện đề cao nhân trị và đức trị trong quản lý xã hội. Còn Tuân Tử thì ngược lại: “Nhân chi sơ tính bổn ác”, đó là cơ sở để Hàn Phi Tử (học trò của Tuân Tử) cho ra đời học thuyết “Pháp trị”, tồn tại đã hơn 2.500 năm nay mà đến bây giờ vẫn chưa có học thuyết nào thay thế. Nói như vậy để thấy rằng, trong mỗi một con người đều có thiện, có ác; khi cái thiện chế ngự thì an bình, cái xấu án ngữ thì hiểm họa.

Nếu, người có tâm thiện thì Vũ Thạch nên hướng con người đi tới cái thiện, không nên bừa bãi cổ súy trả thù và bạo hành(dù vô tình hay cố ý). Vì trả thù hay bạo hành hành sẽ không thoát “lưới trời” pháp trị. Nói về đức nhân tâm thì hả hê gì khi nghe những tiếng khóc than từ những con người vô tội, nạn nhân của những vụ bạo hành; vui sướng gì khi thù chất lên thù, oán oằn lên oán hỡi Vũ Thạch! Nên nhớ rằng: ” ân báo oán, oán tan. Oán báo oán, oán dày”, muôn đời không hết oán.

Từ những luận bàn trên, cho thấy Vũ Thạch phản ánh cái ác(không sai), nhưng không diệt ác mà lại hướng cái ác đi vào đời sống từng gia đình “các quan chức của Đảng” thông qua hai chữ “trả thù”.

Vũ Thạch muốn gì?

Hắn đang muốn xã hội bất an; muốn chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân mà trước hết là tạo mâu thuẫn cực độ giữa nhân dân với thành phần cán bộ của Đảng và gia đình họ, từ đó cô lập, cách ly các gia đình cán bộ của Đảng với một bộ phận đông đảo quần chúng nhân dân.

Và ý tưởng sâu sa của Thạch là mượn chuyện bạo hành – một hành vi xấu xa không riêng có ở mỗi một quốc gia nào để Vũ Thạch hướng “mủi dùi vào chính trị”- bài Đảng. Với thủ đoạn này, Vũ Thạch lộ nguyên hình là kẻ phản động lưu manh.

Đồng Phong