“Một không, Năm có” – LUẬN ĐỆU CỦA KẺ PHẢN ĐỘNG


Hùa theo luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, mới đây trên blog Bauxitevn phát tán bài viết của Trần Minh Thảo, tựa đề “Một không năm có lấy gì cứu nước”. Với những xảo ngôn cũ mèm xuất phát từ dã tâm của kẻ phản động…

 

Mở đầu bài viết, tác giả cố tình lập lờ, úp mở đưa ra những lý luận rời rạc hòng chứng tỏ mình có “tầm” học thuật, có nghiên cứu về chính trị thế giới; về các cuộc chiến tranh xâm lược… khắp các châu lục”…

Sau khi “lượn” một vòng thế giới để đánh lừa người đọc, Trần Minh Thảo đi vào khái niệm cái gọi là “Chủ nghĩa thực dân cũ” và “Chủ nghĩa thực dân mới” nghe rất hùng hồn (!). Không phải tác giả không biết kiến thức mà học sinh cấp 3 đã thuộc làu. Mục đích chính của tác giả từ đưa ra khái niệm, so sánh để đi đến kết luận “Chủ nghĩa thực dân mới không chiếm bất cứ lãnh thổ, không đưa dân chính quốc chiếm cứ đất đai. Bộ máy cai trị là người bản địa nhưng phục vụ lợi ích chính quốc…”. Gần hơn một chút, Trần Minh Thảo “lòi” ra cái “đuôi” dù từ đầu bài viết cố tình “lập lờ” rằng: “Mối quan hệ chủ – tớ gọi là hữu nghị, anh em. Một thuộc quốc như vậy còn là thứ hàng hóa cho các đại cường ra giá với nhau trong quan hệ đối tác”…

Đến đây, thì dã tâm của Trần Minh Thảo đã lộ rõ. Sự “lập lờ” trong đặt vấn đề của tác giả là có chủ đích; một mặt muốn làm “hoa mắt” mọi người về kiến thức “uyên thâm” của mình để “lòe” thiên hạ, một mặt che dấu bộ mặt thật với dã tâm đen tối xuyên tạc, nói xấu, chống phá chế độ của kẻ phản động !

Chuỗi “lý sự dài dòng” của tác giả chưa dừng lại dù đã viết gần một trang giấy. Ông ta tiếp tục miệng lưỡi trơn tuột, lạnh lùng:“Xin giới thiệu một tổng kết các nguyên nhân làm một quốc gia trở thành quận, huyện cho một nước lớn nào đó: “Một không, Năm có”. Đến đây, Trần Minh Thảo “hiện nguyên hình” khi buông câu khẳng định “Việt Nam là quốc gia có bài học kinh nghiệm sâu sắc về “1 không, 5 có”. ???

Trần Minh Thảo nói “tổng kết các nguyên nhân làm một quốc gia trở thành quận, huyện cho một nước lớn nào đó…”…Vậy xin hỏi ông, đối với Việt Nam nguyên nhân này, trường hợp này đã xảy ra ở thời đại nào? Vào giai đoạn lịch sử nào? Việt Nam đã trở thành quận, huyện của nước nào? Và, một nước lớn “nào đó” là nước lớn nào ???

Trong lịch sử dựng nước và giữa nước của dân tộc Việt Nam, đã từng có những giai đoạn khó khăn, tăm tối khi nước ta bị ngoại bang xâm lược, đô hộ, nhân dân ta từng sống trong cảnh nước mất, nhà tan, toàn dân tộc bị nô lệ…Song, với chí khí quật cường của một nước có nền độc lập, tự chủ, tự cường; một dân tộc anh hùng “thà chết chứ nhất quyết không chịu làm nô lệ”, từ các triều đại phong kiến cho đến thời đại Hồ Chí Minh đã có các bậc “công thần lập quốc” đứng lên lãnh đạo nhân dân đánh đuổi ngoại xâm, giành lại độc lộc cho đất nước, tự do cho dân tộc. Đặc biệt, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, dân tộc Việt Nam đã đánh thắng hai đế quốc hùng mạnh: thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đưa nhân dân từ thân phận nô lệ, lầm than trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ cuộc đời mình…

Vậy nên, Trần Minh Thảo nói Việt Nam trở thành quận, huyện của một nước lớn nào đó? Không gì khác hơn sự dã tâm, luận điệu hồ đồ của kẻ phản động !

Hãy thử nghiên cứu cái gọi là “Một không, Năm có” mà Thảo đưa ra, phân tích sau đây là gì? Theo Trần Minh Thảo, “1 không” đó là “không có tổ chức đối lập nên không có tiếng nói phản biện (báo chí, đài phát thanh, truyền hình tư nhân), người dân không được công khai phản biện, không được xuống đường bày tỏ tâm tư, nguyện vọng…”. Ông Thảo biết rằng, cơ chế của nước ta là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”; trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã quy định rất rõ: “Đảng phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân về những quyết định của mình”. Nói về quyền của Nhân dân, Hiến pháp năm 2013 đã dành một chương (Chương II) quy định về “quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”; cụ thể, tại Điều 28 của Hiến pháp đã ghi:“Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước”.

Nhân dân bày tỏ tâm tư, nguyện vọng và góp ý kiến của mình để xây dựng Đảng, Nhà nước thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội, tổ chức xã hội các cấp và được trân trọng tiếp thu, lĩnh hội. Các cơ quan báo chí truyền thông thực hiện vai trò, chức năng phản biện xã hội… Ý đồ của Trần Minh Thảo ở đây là phê phán Đảng ta độc quyền, cổ súy cái gọi “đa đảng đối lập”, “đa nguyên chính trị” cũng hết sức cũ rích. Đây là xảo ngôn, luận điệu tuyền truyền xuyên tạc, kích động cần phải phân biệt, lên án, đấu tranh !

“Năm có” mà Trần Minh Thảo áp đặt cho Việt Nam là:“Bộ máy cai trị lũng đoạn…Bộ máy cai trị là người bản xứ, làm theo mệnh lệnh quan thầy…”; đó là“cư trú xen kẽ (bán nước từng phần – đặc khu…thực dân cũ)…đồng thời di dân chiếm đất, thành lập các điểm dân cư xen kẽ (tên gọi mới là “đặc khu”)…Thực chất, Trần Minh Thảo cũng chỉ là kẻ “ăn theo”, “nói leo” luận điệu xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước, chế độ và bôi nhọ cán bộ lãnh đạo. Hùa theo số đối tượng cực đoan kích động chống đối khi Quốc hội nước ta bàn bạc về dự thảo Luật “Đơn vị Hành chính – Kinh tế  đặc biệt” vừa qua. Nói cho Trần Minh Thảo hay: Đừng vì một số cán bộ tha hóa, biến chất, tham nhũng mà cho rằng “bộ máy cai trị lũng đoạn”; chẳng có ai “làm theo mệnh lệnh” của “quan thầy” nào; chẳng có chuyện bán đất, bán nước…cũng chẳng có chuyện di dân chiếm đất, sống xen kẽ nào cả?! Hiện nay người dân đã có trình độ nhận thức nên họ biết phân biệt đâu đúng, đâu sai chứ không ngu muội như ông và những kẻ lòng dạ đen tối, hằn thù chế độ.

Không có “người dân nào ngu muội” chỉ có những kẻ lòng dạ đen tối, hằn thù chế độ mới ngu muội và buông lời xằng bậy như Trần Minh Thảo mà thôi.

Cái “có” thứ 3 hết sức bịa đặt của Trần Minh Thảo là:“hôn nhân chéo, tạo ra thế hệ lai tạp cho đến khi dân bản địa mất luôn bản sắc giống nòi”? Ông Thảo dẫn chứng cho thiên hạ xem vụ việc nào? Ở đâu đã xảy ra tình trạng này? Ông tự suy diễn, võ đoán, đã quá “lo xa”.

Cái “có” thứ 4 và thứ 5 mà Trần Minh Thảo áp đặt cho Việt Nam dường như ông “lú lẫn” lập lại cái luận điệu đã “nhả” ra ở trên là ca thán Việt Nam không có quyền tự do “xuống đường biểu tình”, “Nhà cai trị nắm hết các phương tiện phổ biến tin tức (không có báo chí tư nhân), người dân chỉ còn “truyền miệng và lên mạng xã hội phát biểu quan điểm…bày tỏ thái độ yêu nước, bảo vệ tổ quốc. Do đó có luật buộc tội hoang báo…luật an ninh mạng”. Nói cho ông Thảo biết, đến nay đã có hơn 80 quốc gia trên thế giới như: Mỹ, Anh, Đức, Hà Lan, Pháp, Canada, Hàn Quốc… đã có các văn bản chính sách, văn bản pháp luật, luật hoặc văn bản dưới luật nhằm tạo ra các thiết chế, cơ sở pháp lý chống lại các nguy cơ đe dọa đến an ninh quốc gia từ không gian mạng; thành lập các lực lượng chuyên trách về an ninh mạng, tình báo mạng, phòng chống khủng bố mạng và tội phạm mạng… chứ không chỉ duy nhất Việt Nam ban hành Luật An ninh mạng.

Rõ ràng, càng nói Trần Minh Thảo càng “lộ rõ” lời lẽ phản động của một kẻ “Tư duy hạt cát”; suy xét sự tình thuộc hạng “Ếch ngồi đáy giếng”.

Thạch Tâm

Advertisements

LẠI MỘT KIỂU “MƯỢN CÁ NẤU CANH”!


Bài viết “Xin đừng gọi THAM NHŨNG là NỘI XÂM” của Hà Sĩ Phu trên mạng xã hội (blog Văn Việt) mang nội dung thiếu tính xây dựng, thậm chí kích động, cổ xúy cho việc lợi dụng dân chủ gây rối trật tự làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Ai cũng biết đại đa số nhân dân cả nước hoan nghênh và đánh giá cao những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, đồng thời bày tỏ sự tin tưởng, mong muốn tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh này với sự vào cuộc quyết liệt hơn của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp cách mạng của nhân dân. Vậy mà tác giả lại dội một gáo nước lạnh cho rằng: “Chống tham nhũng tuy là việc và rất cần thiết nhưng điều quan trọng phải chống cơ chế chính trị độc quyền là nguyên nhân phát sinh, đồng lõa và bảo vệ tham nhũng”. Hà Sĩ Phu còn nói: “Phải tiến hành tại thời điểm thích hợp sao cho không làm lu mờ nhu cầu bức thiết số một là nhu cầu tập trung sức mạnh toàn quốc vào việc chống nạn ngoại xâm kiểu mới của Tàu cộng (mà Luật Đặc khu đang là đòn quyết định trong chiến lược cướp nước và bán nước ấy)”. Thực ra đây chỉ là cái “cớ”, để tác giả kích động làm mất niềm tin vào vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tác giả giải thích ở cuối bài [*] “Một cơ chế quyền lực độc đảng, lãnh đạo một cách “trực tiếp, toàn diện và tuyệt đối” thì chính là cội nguồn bất tận tuôn ra bạt ngàn những dòng thác trào tham nhũng, tràn ngập khắp trốn thị thành và làng quê xóm ngõ, sức nào mà chống cho hết được?”. Với tư tưởng hằn học và phương pháp võ đoán, tác giả mỉa mai: “Trong khi “lò chống tham nhũng” đang cháy rực nơi cung đình thì khắp nơi, tận hang cùng ngõ hẻm tham nhũng vẫn thản nhiên bủa vây cuộc sống”. Tham nhũng đúng là một vấn đề thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Bởi, tham nhũng không chỉ gây thất thoát tài sản của Nhà nước, của nhân dân, làm giàu cho một số người tha hóa, gây hại cho hoạt động của một số tổ chức và doanh nghiệp, mà còn ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước, gây bức xúc trong nhân dân, cản trở quá trình phát triển của đất nước. Đương nhiên, xét cho cùng tham nhũng chỉ có thể xẩy đến với người có quyền lực. Bởi người không giữ một vai trò nào trong quá trình tổ chức quản lý, điều hành công việc kinh doanh, phân phối tài sản vật chất, tiền bạc của nhà nước… hoặc không giữ vai trò quan trọng trong chính quyền, trong doanh nghiệp các cấp, trong các cơ quan ban ngành từ Trung ương đến địa phương…thì rất khó có điều kiện để tham nhũng. Nhưng không vì thế mà Hà Sĩ Phu “vơ đũa cả nắm”. Trong bộ máy Đảng, Nhà nước, doanh nghiệp còn rất nhiều tấm gương sáng. Dù các thế lực thù địch và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí cố tình xuyên tạc để hạ thấp ý nghĩa thì vẫn không thể phủ nhận một sự thật là phòng chống tham nhũng ở Việt Nam đã và đang giữ vai trò quan trọng trong việc củng cố hệ thống chính trị trên cả nước, góp phần ổn định tiến trình phát triển kinh tế, tạo hiệu ứng tích cực và lan tỏa mạnh mẽ trong xã hội, tạo niềm tin cho nhân dân. Qua các vụ án xét xử một số vụ đại án về tham nhũng, trong đó có cả một số cán bộ lãnh đạo cấp cao được sự đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao của nhân dân đã cho thấy ý nghĩa tích cực của vấn đề. Từ quan niệm đúng đắn, biện pháp kiên quyết nghiêm minh, không để “lọt người, lọt tội”, không để có người bị hàm oan… cho thấy thái độ nghiêm túc, trong sáng của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong đấu tranh chống tham nhũng.

Về vấn đề tác giả nêu “cơ chế chính trị độc quyền”, xin nhắc lại rằng việc tồn tại một đảng ở mỗi nước là do những điều kiện lịch sử-cụ thể quy định, không có khuôn mẫu chung nào. Ở Việt Nam từ giữa năm 1947 đến năm 1988, ngoài Đảng Cộng sản lãnh đạo chính quyền còn có hai đảng: Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam tham gia chính quyền, nhưng hai đảng trên thì thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ tháng 11 năm 1988 đến nay, trên chính trường Việt Nam chỉ còn lại duy nhất một đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam. Ở Cu Ba, Lào cũng chỉ có một đảng cầm quyền. Ở Trung Quốc, ngoài Đảng cộng sản là đảng cầm quyền, còn có tám đảng phái dân chủ khác, nhưng vẫn chấp nhận sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Trung Quốc, v.v… Thực ra, vấn đề chủ yếu đối với một đảng cộng sản cầm quyền là cầm quyền một cách khoa học, dân chủ và theo pháp luật trên cơ sở giữ vững sự trong sạch, vững mạnh của các tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên và quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Trong xã hội hiện nay, có thể nơi này, nơi khác có hiện tượng mất dân chủ, nhưng tổng thể nhân dân không bị mất quyền làm chủ đất nước. Dân chủ không chỉ là động lực cho người dân chiến đấu giành lại quyền cơ bản là độc lập cho dân tộc và dân chủ mà còn là khát vọng vươn lên để xây dựng một cuộc sống hạnh phúc, tự do cho mỗi người. Điều này được Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện nhất quán từ khi thành lập đến nay. Nền dân chủ nào cũng được hiện thực hóa qua một thiết chế tổ chức với cơ chế vận hành nhất định đó là hệ thống chính trị. Việc mở rộng và phát huy nền dân chủ không phụ thuộc vào chế độ nhất nguyên chính trị hay chế độ đa nguyên chính trị, mà đó phụ thuộc vào cơ cấu và tính hợp lý trong hệ thống chính trị, điều này không chỉ phù hợp với hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, nó còn phù hợp cho cả hệ thống chính trị tư bản chủ nghĩa. Do vậy, các luận điểm sai trái, thù địch đòi thực hiện đa đảng-đa nguyên chính trị ở Việt Nam xét đến cùng đều nhằm mục đích phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng đối toàn xã hội.

Mượn câu chuyện chống tham nhũng, đánh tráo khái niệm, tung hảo mù, kích động bạo lực là một việc làm không thể chấp nhận được. Đúng là “mượn cá nấu canh”, không thể lừa bịp được ai!

Hà Phúc Lâm

LUẬT AN NINH MẠNG “NGƯỜI BẢO VỆ CÔNG LÝ” KHÔNG GIAN MẠNG


Luật “An ninh mạng” vừa được Quốc hội thông qua và sẽ chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2019. Đây được coi như “Người bảo vệ” cho tất cả những ai sử dụng không gian mạng ở Việt Nam; là lá chắn “thép” cho Quốc phòng, An ninh Quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Trước khi luật này được thông qua, trên các mạng và ngoài xã hội, các thế lực thù địch đã cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật, cho rằng Luật “An ninh mạng” đã xâm phạm quyền riêng tư của công dân; phi dân chủ; tước quyền tự do sử dụng không gian mạng của công dân; vi phạm quyền tự do ngôn luận; trái thông lệ Quốc tế, cản trở quá trình phát triển của đất nước…

Có vô số những  lời “buộc tội” bịa đặt mà thế lực xấu dành cho Đảng, Nhà nước ta đối với Luật An ninh mạng. Trước khi giải mã những thông tin bóp méo sự thật và lừa dối này, chúng tôi xin chi tiết những hành vi bị nghiêm cấm khi sử dụng không gian mạng mà luật quy định để dư luận nhận diện sự thật.

Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa 14

Những nhóm hành vi bị nghiêm cấm:

Luật An ninh mạng gồm 7 Chương, 43 Điều quy định về hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Luật quy định rõ 6 nhóm hành vi bị nghiêm cấm và những quy định về xử lý các thông tin có nội dung vi phạm pháp luật. Tại Điều 8, Luật nghiêm cấm việc sử dụng không gian mạng để thực hiện những hành vi: “Sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội bao gồm: Đăng tải, phát tán thông tin trên không gian mạng có nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 16 và hành vi quy định tại khoản 1 Điều 17 của Luật này; chiếm đoạt tài sản; tổ chức đánh bạc, đánh bạc qua mạng internet; trộm cắp cước viễn thông quốc tế trên internet; vi phạm bản quyền và sở hữu trí tuệ trên không gian mạng; Giả mạo trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, cá nhân; làm giả, lưu hành, trộm cắp, mua bán, thu thập, trao đổi trái phép thông tin thẻ tín dụng, tài khoản ngân hàng của người khác; phát hành, cung cấp, sử dụng các phương tiện thanh toán trái phép; tuyên truyền, quảng cáo, mua bán hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục cấm theo quy định của pháp luật; hướng dẫn người khác thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; hành vi khác sử dụng không gian mạng vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”.

Luật An ninh mạng cũng quy định nghiêm cấm sử dụng không gian mạng để: Tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế – xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.

Các hành vi bị nghiêm cấm còn gồm việc sử dụng không gian mạng để: Hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội.

Nhóm hành vi thứ 2 bị nghiêm cấm, theo quy định của Điều 8 Luật An ninh mạng là thực hiện tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; gây sự cố, tấn công, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt hoặc phá hoại hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

Các hành vi sản xuất, đưa vào sử dụng công cụ, phương tiện, phần mềm hoặc có hành vi cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông; phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử; xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác là nhóm hành vi thứ ba bị nghiêm cấm.

Điều 8 của Luật An ninh mạng cũng quy định rõ 3 nhóm hành vi khác cũng bị nghiêm cấm, bao gồm: Chống lại hoặc cản trở hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng; tấn công, vô hiệu hóa trái pháp luật làm mất tác dụng biện pháp bảo vệ an ninh mạng; lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi; hành vi khác vi phạm quy định của Luật này.

Thông tin nào trên không gian mạng có nội dung vi phạm pháp luật?

Đó là những nội dung được quy định tại Điều 16 về phòng ngừa, xử lý thông tin trên không gian mạng, gồm: Nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.

Cụ thể là nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm: Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; Chiến tranh tâm lý, kích động chiến tranh xâm lược, chia rẽ, gây thù hận giữa các dân tộc, tôn giáo và nhân dân các nước; xúc phạm dân tộc, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, vĩ nhân, lãnh tụ, danh nhân, anh hùng dân tộc;

Các nội dung kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng như: Kêu gọi, vận động, xúi giục, đe dọa, gây chia rẽ, tiến hành hoạt động vũ trang hoặc dùng bạo lực nhằm chống chính quyền nhân dân; kêu gọi, vận động, xúi giục, đe dọa, lôi kéo tụ tập đông người gây rối, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức gây mất ổn định về an ninh, trật tự.

Các nội dung thông tin mạng làm nhục, vu khống bao gồm: Xúc phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác; thông tin bịa đặt, sai sự thật xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.

Thông tin trên không gian mạng có nội dung xâm phạm trật tự quản lý kinh tế bao gồm: Thông tin bịa đặt, sai sự thật về sản phẩm, hàng hóa, tiền, trái phiếu, tín phiếu, công trái, séc và các loại giấy tờ có giá khác; thông tin bịa đặt, sai sự thật trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp, chứng khoán.

Điểm cần lưu ý nữa, theo quy định tại Điều 16 Luật An ninh mạng những thông tin không được đăng tải, phát tán trên không gian mạng, còn có những thông tin có nội dung sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế – xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.

Từ những quy định rõ ràng trên, có thể thấy Luật An ninh mạng không có câu nào, từ nào nghiêm cấm hoặc khống chế công dân, các tổ chức kinh tế sử dụng không gian mạng, vì vậy không thể nói rằng Luật đã tước đoạt quyền tự do sử dụng không gian mạng. Khẳng định rằng, Luật không ảnh hưởng gì đến tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp sử dụng không gian mạng để phục vụ nhu cầu hợp pháp; không có rào cản, hay hình thức cản trở nào đối với người sử dụng không gian mạng như những lời xuyên tạc bịa đặt. Luật quy định rõ là tạo mọi điều kiện cho các tổ chức, cá nhân được sử dụng không gian mạng đối với bất cứ loại hình dịch vụ, từ dịch vụ Internet, dịch vụ viễn thông đến các dịch vụ gia tăng, các dịch vụ bán hàng trên mạng mà không vi phạm vào những điều nghiêm cấm. Vì vậy, yên tâm rằng, mọi người vẫn tự do sử dụng mọi dịch vụ không gian mạng, ngoại trừ những kẻ sử dụng không gian mạng vì mục đích trái pháp luật. Một số chuyên gia trên lĩnh vực công nghệ thông tin còn khẳng định: Không có chuyện Luật An ninh mạng làm tổn hại đến kinh tế Việt Nam hoặc doanh nghiệp Việt Nam sẽ lùi bại bởi những quy định của Luật An ninh mạng, ngược lại các doanh nghiệp còn tiết kiệm được chi phí nếu đặt sever nội dung tại Việt Nam vì không phải trả phí cho các đối tác nước ngoài…

Luật An ninh mạng – Người bảo vệ công lý trên không gian mạng

Theo số liệu báo cáo từ tổ chức We Are Social, tính đến tháng 01 năm 2018, dân số Việt Nam có 96.02 triệu người. Tổng số người dùng Internet là 64 triệu người, tăng hơn 13 triệu người, khoảng 27,5% so với cùng thời điểm năm ngoái và chắc chắn rằng con số này sẽ còn nhiều hơn nữa trong thời tới. Rõ ràng, internet đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu, nó là loại dịch vụ truyền thông đem lại nhiều tiện ích trong đời sống thông tin, đời sống tinh thần và cả kinh tế cho nhân dân.

Sẽ là quá tuyệt vời, nếu như internet không bị người ta lợi dụng cho những dụng ý xấu xa, trong đó, nguy hiểm nhất chính là sự lợi dụng internet của các thế lực thù địch để chống phá Đảng, Nhà nước bằng các thủ đoạn: Tung tin thất thiệt, bịa đặt; xuyên tạc đường lối, quan điểm, chính sách; kích động các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, gây nhiễu loạn xã hội, bất ổn niềm tin.

Lợi dụng internet, chúng dùng thủ đoạn đánh vào niềm tin tâm linh, lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân, dựng chuyện rồi kích động biểu tình, bạo loạn, mà mới đây nhất là kích động xuống đường tụ tập đông người, phá hoại tài sản nhà nước, nhân dân ở Bình Thuận và một số các tỉnh, thành khác, gây bất bình trong dư luận.

Chúng lợi dụng internet để thực hiện “chiến dịch” bôi nhọ cá nhân, tung tin thất thiệt nhằm làm giảm sút niềm tin, chia rẽ nội bộ Đảng. Phụ họa cho các quan điểm chống đối, chúng sử dụng một lực lượng chuyên nghiệp chửi bới Đảng, Nhà nước bằng hàng loạt thứ ngôn từ hạ cấp, thậm chí là thiếu văn hóa như những kẻ “bất lương thông tin”.

Ngoài vấn đề chính trị, hẵn ai cũng biết những năm qua, không gian mạng đã bị lợi dụng phục vụ cho những mục đích: Ganh tị, nói xấu, bôi nhọ, lửa đảo(điển hình như vụ bán hàng đa cấp…), tung tin đồn vì thủ đoạn kinh tế, chính trị, hạ uy tín, xúc phạm nhân phẩm, danh dự con người, trái thuần phong mỹ tục, kích động bạo lực, mại dâm, tổ chức đánh bạc …gây nhiều hệ lụy “đáng sợ” cho tổ chức, cá nhân mà chuyện dụ dỗ, mua bán phụ nữ trẻ em xuyên biên giới vẫn còn là nổi ám ảnh kinh hoàng cho không ít người và gia đình. Còn rất nhiều những vi phạm khác trên không gian mạng như: Tin tặc; đánh cắp dữ liệu của cá nhân, tổ chức; xâm nhập và phá hủy hệ thống thông tin của tổ chức, cá nhân, gây ra những thiệt hại kinh tế và uy tín như vụ việc xảy ra ở Ngành hàng không Việt Nam…

Một câu hỏi đặt ra nữa là liệu Luật có vi phạm thông lệ quốc tế như các luận điệu xuyên tạc hay không? Khẳng định: Bảo vệ an ninh, trật tư an toàn xã hội là quyền tối thượng của mỗi một Quốc gia mà không một tổ chức Quốc tế nào có quyền can thiệp, ngăn trở. Hiện nay đã có 138 nước ban hành Luật An ninh mạng, trong đó 18 quốc gia quy định lưu trữ dữ liệu ở trong nước. Việt Nam không phải là quốc gia đầu tiên áp dụng quy định này. Đối với các tổ chức thương mại mà chúng ta tham gia đều có quy định về “ngoại lệ”, tôn trọng và cho phép quyền bảo vệ an ninh quốc gia. Như vậy, không có chuyện Luật An ninh mạng vi phạm thông lệ quốc tế. Xin nói thêm rằng, nội dung của Luật được xây dựng trên cơ sở tham khảo rất nhiều Luật An ninh mạng trên thế giới và ý kiến trực tiếp của các chuyên gia nước ngoài, vì vậy, không thể nói Luật An ninh mạng Việt Nam là sự áp đặt chủ quan, duy ý chí…

Quyền tự do thông tin, tự do ngôn luận là một trong những quyền tối thượng được Hiến định, nhưng không thể và không bao giờ có thứ tự do vượt qua giới hạn của “Gia quy; Quốc Pháp”. Vì vậy, những ai cố tình lợi dụng không gian mạng làm tổn hại đến lợi ích và an ninh quốc gia, dân tộc; xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; truyền bá và cổ súy những tư tưởng chống đối Đảng, Nhà nước bằng những thông tin vu cáo, đều phải được xử lý nghiêm minh theo luật định.

Vì vậy, Luật An ninh mạng Việt Nam là “Người bảo vệ công lý trong không gian mạng” Việt Nam; là lá chắn mọi rác rưởi xấu xa, độc hại để giữ sự trong lành cho không gian mạng, đem lại sự bình yên và những gì tốt đẹp nhất cho mọi cư dân mạng và Quốc gia, dân tộc.

 

Lê Quang

Đừng để lòng yêu nước bị lợi dụng và xúc phạm


 Ngày 11 và ngày 12 tháng 6 vừa qua, trong khi kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XIV đã thống nhất lùi thời gian thông qua “Dự Luật đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt” sang kỳ họp thứ 6 để tính toán kỹ hơn theo nguyện vọng của nhân dân cả nước, thì một số địa phương, đặc biệt là ở Bình Thuận, nhiều người dân bị kích động, tụ tập đông người tràn xuống Quốc lộ 1, làm ách tắc giao thông. Một số người đã phá cổng, phá hàng rào xông vào trụ sở Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Thuận; Cơ quan cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và một số công sở khác của chính quyền đập phá, gây thiệt hại không nhỏ tài sản của Nhà nước, Nhân dân. Những hành động trên gây bất bình trong dư luận…Biện bạch cho hành vi coi thường pháp luật này, những kẻ xúi giục nói rằng đó là hành động yêu nước. 

Không. Đó không phải là hành động yêu nước, bởi yêu nước không bao giờ là hành vi côn đồ. Việc đập phá trụ sở UBND tỉnh Bình Thuận, cơ quan công quyền đứng đầu của tỉnh, mọi tài sản ở đó đều được xây dựng từ tiền thuế của dân – hành động đó không thể là yêu nước; cố tình hủy hoại xe cộ, các thiết bị phòng cháy chữa cháy cho dân tại trụ sở Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy tỉnh- đừng vờ rằng đó là yêu nước. Dùng hung khí chống người thi hành công vụ, chống người bảo vệ cuộc sống cho dân, trong đó có cả gia đình, người thân của mình – đừng cố tình ngộ nhận rằng là do mình yêu nước. Nhận vài ba trăm ngàn của kẻ xấu, tụ tập uống rượu, kéo nhau xuống đường gây rối, rồi hài hước gắn vào đó ba chữ “lòng yêu nước”- đó là sự phỉ nhục lòng yêu nước khi định lượng giá trị thiêng liêng của lòng yêu nước bằng mấy trăm ngàn đồng, hay bằng rượu, bằng quà…và những hành vi phi văn hóa…

Yêu nước là bản chất vốn có của mỗi một người dân đất Việt. Lòng yêu nước được nuôi dưỡng, vun đắp qua hàng ngàn năm văn hiến. Từ cổ tới kim, lòng yêu nước luôn luôn được trân trọng giữ gìn. Đảng, Nhà nước luôn tôn vinh lòng yêu nước; quan tâm, lắng nghe ý kiến, hiến kế của dân đối với sự phồn vinh của đất nước mà cụ thể nhất trong việc này là Chính phủ chính thức đề nghị Quốc Hội cho lùi việc thông qua “Dự Luật đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt” sang kỳ họp thứ 6 sau khi nghe nhiều ý kiến của Đại biểu Quốc Hội và ý kiến của nhân dân trong cả nước. Mục đích là để tính toàn kỹ hơn, đảm bảo mục tiêu tối thượng là tuyệt đối an toàn chủ quyền và quốc phòng an ninh quốc gia. Hành động kịp thời của Chính phủ, của Quốc Hội thể hiện rõ ràng rằng Chính phủ, Quốc Hội đã và đang lắng nghe tiếng nói của nhân dân, tiếp thu ý kiến của nhân dân. Vậy thì, hà cớ gì lại xuống đường tụ tập đông người, gây rối trật tự xã hội, tạo nên hình ảnh xấu cho đất nước. Khẳng định rằng, đó là hành vi chống phá Đảng, Nhà nước mà kẻ cầm đầu đang giấu mình trong bóng tối.

Nhân đây, khẳng định rằng: Vân Đồn (Quảng Ninh), Phú Quốc (Kiên Giang), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) thực sự là những đầu tàu trong các toa tàu kinh tế sẽ đưa đất nước chúng ta phát triển mạnh mẽ, điều này ai cũng biết. Nhưng quan trọng hơn là làm thế nào để các đầu tàu đó thực sự chuyển động kéo theo các toa tàu. Vậy nên, việc thành lập ba đặc khu kinh tế nhằm thu hút các nguồn lực (công nghệ hiện đại, nguồn vốn, nhân tài, ý tưởng phát triển…) tạo ra những cực tăng trưởng là giải pháp rất cần thiết, phù hợp với nhu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập. Mô hình này không lạ, không mới so với thế giới. Nếu cho rằng trong dự luật có điều gì chưa ổn thì hãy thể hiện lòng yêu nước của mình bằng những góp ý, hiến kế như rất nhiều, rất nhiều người dân lương thiện khác trong cả nước đã làm, chứ không phải bằng những hành vi mang tính côn đồ, phá hoại.

Yêu nước trước hết phải là tinh thần thượng tôn pháp luật. Sự coi thường pháp luật làm tổn hại đến danh dự Quốc gia, sự phát triển đất nước; gây bất an xã hội, bất luận vì lý do gì cũng không thể chấp nhận. Dư luận đang vô cùng bức xúc, yêu cầu các ngành chức năng sớm làm rõ, lôi ra ánh sáng những kẻ cầm đầu, xúi giục vụ gây rối ở Bình Thuận và một số nơi khác; nghiêm trị những hành vi bạo lực, côn đồ cho dù đó là những người bị lôi kéo, kích động. Có như vậy thì sự cảnh tỉnh mới có tác dụng trong đời sống xã hội và lòng yêu nước mới không bị lợi dụng và xúc phạm.

 

                                                                     Nhật Minh

ĐẶC KHU KINH TẾ KHÔNG NHƯ NHỮNG LỜI KÍCH ĐỘNG


Một trong những chi tiết mà kẻ xấu tung lên mạng kích động chống phá việc xây dựng đặc khu kinh tế trong những ngày qua là thời hạn cho thuê đất dài đến 99 năm; rằng 3 đặc khu kinh tế Vân Đồn (Quảng Ninh), Phú Quốc (Kiên Giang), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) là những địa điểm trọng yếu về kinh tế, Quốc phòng, an ninh quốc gia. Cho thuê đất 99 năm là đồng nghĩa với việc bán đất.

Trước hết, phải xác định rằng Vân Đồn (Quảng Ninh), Phú Quốc (Kiên Giang), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) là những đầu tàu trong các toa tàu kinh tế đưa đất nước chúng ta phát triển mạnh mẽ. Nhưng nó chỉ thực sự quan trọng khi đầu tàu đó chuyển động kéo theo các toa tàu, vì vậy chủ trương thành lập đặc khu kinh tế được coi là một giải pháp căn cơ, đúng hướng để thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước, tạo ra những cực tăng trưởng, làm chuyển động phát triển nền kinh tế các vùng phụ cận.

Nhìn ra thế giới

Đặc khu kinh tế là điều không mới so với thế giới vì nó đã hình thành từ rất lâu. Đầu tiên là mô hình “Cảng tự do” ở Italia năm 1547; khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đầu thế kỷ 18. Năm 1819, mô hình này được Singapore cải tiến và mở rộng gọi là “Khu mậu dịch tự do”, tiếp đến là Hồng Kông (1842). Một trăm năm sau(1942), “đặc khu kinh tế” còn gọi là mô hình “khu kinh tế mở hiện đại” đầu tiên được xây dựng tại Puerto Rico, vùng quốc hải phía Đông Bắc biển Caribe thuộc chủ quyền của Mỹ. Đến cuối thập niên 60, các đặc khu kinh tế được nhân rộng tại nhiều quốc gia châu Á như: Ấn Độ, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia, Phillippines, Singapore. Đến nay trên thế giới đã có hơn 3.500 khu kinh tế tự do tại 135 quốc gia. Malaysia cũng đang vận hành chuỗi đặc khu suốt 10 năm nay. Indonesia sau khi ban hành “Luật đặc khu” vào năm 2009, hiện đã có 10 đặc khu ven biển rất thành công. Năm 2014, Myanmar thông qua “Luật đặc khu”, nay đang tiếp tục kiến tạo các khu kinh tế mới mở. Hàn Quốc và Thái Lan đang thử nghiệm các đặc khu công nghiệp – sinh thái…

Nhìn về Việt Nam

Năm 2002, Việt Nam mới xây dựng thí điểm mô hình “khu kinh tế mở” Chu Lai (Quảng Nam) và đến nay đã có 18 khu kinh tế ven biển với tổng diện tích khoảng 54.000 ha. Mô hình này đã đạt được các kết quả nhất định về thu hút đầu tư, giải quyết việc làm, đóng góp ngân sách… Tuy nhiên, đây không phải là mô hình “đặc khu kinh tế”; chúng ta hoàn toàn chưa có một đặc khu kinh tế đúng nghĩa trong khi sở hữu nhiều lợi thế với hơn 50 cảng biển, 40 vũng, vịnh, 3.000 hòn đảo lớn nhỏ và là một trong 10 nước trên thế giới có chiều dài bờ biển dài nhất thế giới (3.260 km). Vì thế, sẽ là lãng phí rất lớn nếu chúng ta không xây dựng những đặc khu kinh tế để tạo ra các mủi đột phá trong tương lai.

“Đặc khu”, “Đặc quyền”

Rõ ràng, việc xây dựng 3 đặc khu kinh tế Vân Đồn (Quảng Ninh), Phú Quốc (Kiên Giang), Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) là đòi hỏi tất yếu của thời kỳ hội nhập, phát triển. Dĩ nhiên khi đã gọi là “đặc khu kinh tế” thì liền đó là các cơ chế, chính sách “đặc quyền”, phù hợp với chuẩn mực quốc tế như: Bãi bỏ hàng rào bảo hộ thuế và phi thuế quan; miễn thị thực nhập cảnh; thời hạn cho thuê đất; thuế thu nhập doanh nghiệp. Nhà đầu tư được phép tự do kinh doanh, chỉ trừ một số lĩnh vực cấm…Tại các đặc khu của Indonesia, việc cấp phép đầu tư kéo dài không quá 20 ngày. Ở Jeju (Hàn Quốc), nhà đầu tư được thuê đất trong 50 – 100 năm (có thể gia hạn thêm), miễn thuế BĐS trong 10 – 15 năm, giảm 50 – 10% tiền thuê đất, miễn thuế xuất nhập khẩu…Hầu hết các quốc gia đều có luật điều chỉnh riêng cho thể chế kinh tế đặc biệt này.Thậm chí Hàn Quốc, Singapore, Các tiểu vương quốc Ả rập…còn có luật riêng áp dụng cho từng đặc khu. Hầu hết, các đặc khu trên thế giới khi đi vào hoạt động đều trở thành “đầu tàu”, tạo động lực kéo các vùng kinh tế lân cận tăng trưởng theo một cách nhanh chóng. Phó Thủ tướng chính phủ Vương Đình Huệ khẳng định: Muốn xây dựng thành công đặc khu kinh tế, phải có “Luật về đặc khu kinh tế” và phải có cơ chế, chính sách ưu đãi vượt trội thì mới thu hút và điều kiện chọn lựa các nhà đầu tư chiến lược, mạnh về tài chính, hiện đại về công nghệ; thể chế hành chính và kinh tế “đặc khu” phải mang tầm quốc tế, tạo được sức cạnh tranh vượt trội với các “đặc khu” khác đã hình thành trên thế giới.

Một số quan điểm cho rằng: “Mô hình đặc khu kinh tế” hiện đã lỗi thời và không có tác dụng nhiều so với thời kỳ công nghiệp 4.0, vì thế không khéo “đặc khu kinh tế” sẽ trở thành miếng mồi béo bở cho các nhà đầu tư bất động sản, không đem lại lợi ích thật sự như mục tiêu đề ra.Thậm chí có người còn cảnh báo “đặc khu” sẽ trở thành địa điểm di dân của quốc gia khác. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng: Dù ra đời khá lâu nhưng mô hình đặc khu kinh tế không phải là “mô hình đóng” trong khuôn khổ định sẵn mà nó luôn luôn vận động, đổi mới phù hợp với từng thời kỳ phát triển. Điển hình như Đức, Mỹ đã cải tiến “đặc khu kinh tế” theo hướng đón đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Còn việc đặc khu có trở thành nơi đầu cơ bất động sản hay không thì đây là điều mà Đảng, Quốc hội và Nhà nước ta đã lường trước và dĩ nhiên có những chế tài khả thi…mà các nhà đầu tư buộc phải thi hành…

Quan tâm gì ở “Dự luật đặc khu”

Dự án “Luật đơn vị hành chính, kinh tế đặc biệt”có 6 chương, 85 điều được xây dựng khá công phu, gồm nhiều quy định. Sự công phu này là hiển nhiên bởi không phải do lần đầu xây dựng mà vì tầm quan trọng chiến lược trong phát triển kinh tế, đặc biệt là phải đảm bảo tuyệt đối quốc phòng an ninh. Tại chương III: “Cơ chế, chính sách đặc biệt về phát triển kinh tế – xã hội tại đặc khu”; ở Mục 1, Điều 16: “Ngành, nghề ưu tiên phát triển tại đặc khu” đã quy định:

  1. Tại đặc khu Vân Đồn ưu tiên phát triển các ngành, nghề: Công nghệ cao; công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao; du lịch và công nghiệp văn hóa; cảng hàng không, cảng biển, thương mại.(có cụ thể các danh mục kèm theo dư luật)
  2. Tại đặc khu Bắc Vân Phong ưu tiên phát triển các ngành, nghề: Công nghệ thông tin, điện tử, cơ khí chính xác; cảng biển; du lịch, khách sạn; trung tâm thương mại – tài chính.(có cụ thể các danh mục kèm theo dư luật)
  3. Tại đặc khu Phú Quốc ưu tiên phát triển các ngành, nghề: Du lịch, khách sạn; thương mại, hội nghị, triển lãm, quản lý tài sản; y tế, giáo dục, nghiên cứu và phát triển. .(có cụ thể các danh mục kèm theo dư luật)
  4. Các dự án đầu tư quy định của Luật này thực hiện giải ngân theo đúng tiến độ cam kết nhưng không quá 05 năm kể từ khi cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 3 của Luật này.
  5. Trường hợp xuất hiện các yếu tố quan trọng tác động tới định hướng phát triển của đặc khu, Thủ tướng Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định điều chỉnh ngành, nghề ưu tiên phát triển tại đặc khu Vân Đồn, đặc khu Bắc Vân Phong, đặc khu Phú Quốc.

Từ những quy định trên, có thể thấy 3 đặc khu có 3 điểm trội khác nhau, phù hợp với thế mạnh cũng như nhu cầu và xu hướng phát triển từng khu vực. Chính quyền đặc khu sẽ chọn lọc nhà đầu tư phù hợp với quy hoạch và mục tiêu đề ra. Tuy nhiên, điều mà người dân quan tâm nhất hiện nay là vấn đề cho thuê đất được quy định tại Chương III, Mục 2, Điều 32 về “Quản lý và sử dụng đất tại đặc khu”. Dự luật nêu rõ 6 điểm, trong đó 3 điểm dư luận quan tâm, đó là:

  1. Căn cứ vào quy mô, tính chất của dự án đầu tư và đề xuất của nhà đầu tư, Chủ tịch Ủy ban nhân dân đặc khu quyết định thời hạn sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh tại đặc khu không quá 70 năm; trường hợp đặc biệt, thời hạn sử dụng đất có thể dài hơn nhưng không quá 99 năm do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
  2. Tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật về đầu tư được thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê tại đặc khu tại tổ chức tín dụng nước ngoài có hiện diện thương mại tại Việt Namđể vay vốn đầu tư.

Trường hợp xử lý tài sản thế chấp, bên nhận thế chấp chỉ được chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất thuê tại đặc khu cho đối tượng đủ điều kiện được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

  1. Việc sử dụng đất tại đặc khu phải phù hợp với quy hoạch đặc khu và các quy hoạch chi tiết để thực hiện quy hoạch đặc khu.

Như vậy, có thể thấy thời hạn cho thuê đất sẽ không quá 70 năm, chỉ trừ trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định thì không quá 99 năm. Đây là chuyện bình thường, bởi trên thế giới hiện nay, việc cho thuê đất thời hạn 100 năm có gia hạn không phải là hiếm, cụ thể ở Jeju (Hàn Quốc), còn ở Mỹ thậm chí họ bán cả thị trấn Buford cho người Việt Nam với số tiền 900.000 USD.Tất nhiên, mọi sự so sánh đều khập khiễng và với thể chế của chúng ta đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý thì không có chuyện bán đất như các quốc gia khác. Chuyên gia luật Lê Nguyễn Duy Hậu phân tích rằng tuy cho thuê 99 năm là dài nhưng việc đó “không phải là chỉ dấu của sự nhượng địa, miễn là không cho thuê luôn cả quyền tài phán và chủ quyền với vùng đất đó”

Nhân dân nói gì?

Nhân dân không hề phản đối việc xây dựng đặc khu nhưng vấn đề ở đây là đặc khu sẽ phát triển ra sao? Chọn lựa nhà đầu tư nào? Thiện chí của nhà đầu tư đó ra sao? là điều phải tính kỹ.

Nhiều ý kiến cũng cho rằng liệu có cần thiết phải kéo dài thời hạn cho thuê đất đến 70 năm, hay 99 năm như dự luật đề ra, vì đó là quãng thời gian xấp xỉ 2 đời người. Nhân dân đồng ý rằng: Bất kỳ một nhà đầu tư nào khi bỏ tiền đầu tư đều muốn rõ ràng thời hạn mà họ được thuê là bao lâu; dĩ nhiên, tỷ lệ đầu tư của họ tùy vào thời hạn cho thuê đất. Nhân dân cũng hiểu rằng thuê đất chứ không phải bán đất, đây là hai việc, hai bản chất hoàn toàn khác nhau nhưng thời hạn cho thuê quá dài e rằng “lợi bất cập hại”.

Nhân dân cũng biết thời hạn cho thuê đất là điều kiện “cần” của các nhà đầu tư nhằm ràng buộc bên cho thuê đất đảm bảo sự ổn định cần thiết. Nhưng không vì thế mà cho thuê bằng mọi giá. Cần tính thời hạn cho thuê hợp lý, đồng thời có những chế tài, ràng buộc nhà đầu thực hiện đúng cam kết, mục tiêu mà chúng ta đặt ra.

Nhân dân hiến kế: Thay vì ấn định thời hạn cho thuê đất kéo dài 70 năm hay 90 năm, dự luật cần rút ngắn thời gian và quy định rõ việc gia hạn cho thuê đất nếu nhà đầu tư thực hiện đúng cam kết đầu tư và thực sự có nhu cầu gia hạn.

Điều cốt lõi nữa mà nhân dân mong muốn là dự luật phải có điều khoản rõ ràng, minh bạch về quyền chuyển nhượng đầu tư (dự án trong đặc khu), tránh cho được tình trạng đầu cơ bất động sản; và trên tất cả dự luật phải đảm bảo tuyệt đối về chủ quyền và quốc phòng, an ninh…

Lời kết

Như vậy là đã rõ, không có chuyện nhân dân phản đối việc thành lập các đặc khu kinh tế. Nhân dân chỉ chưa đồng tình một số điều trong dự “Luật đơn vị hành chính, kinh tế đặc biệt” và yêu cầu phải nghiên cứu kỹ hơn chứ không như những luận điệu xuyên tạc, kích động của các thế lực chống đối. Điều đó, thể hiện nhận thức khá rõ ràng của nhân dân về trách nhiệm và bổn phận của mình đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Quốc hội và Chính phủ đã lắng nghe, tiếp thu và sẽ tập trung nghiên cứu, chỉnh sửa dự luật, vừa đáp ứng nguyện vọng của nhân dân vừa để tránh những “bất lợi” có thể xảy ra trong quá trình thực hiện. Đây là việc nhất định sẽ làm vì sự phồn vinh của Quốc gia, dân tộc.

 

                                                                                                                     Lê Quang

 

CÁI GỌI LÀ “MẬT ƯỚC THÀNH ĐÔ” VÀ NHỮNG LỜI XUYÊN TẠC, KÍCH ĐỘNG


Một số blog và các trang mạng xã hội, nhất là trong các chương trình video Clip được thực hiện ở hải ngoại, những kẻ có tư tưởng thù địch, xuyên tạc rằng việc xây dựng 3 đặc khu kinh tế ở Vân Đồn(Quảng Ninh); Bắc Vân Phong (Khánh Hòa) và Phú Quốc (Kiên Giang) là bước đi ngầm thực hiện “Mật ước Thành Đô”, dâng đất cho Trung Quốc xây dựng thành những khu tự trị thuộc Trung vào năm 2020. Những lời bịa đặt xuyên tạc cực kỳ nguy hiểm này đã đánh vào lòng yêu nước của người Việt, tạo ra sự nghi ngờ trong dư luận, từ đó kích động tụ tập đông người gây rối mà vụ việc ở Bình Thuận và một số tỉnh, thành khác xảy ra trong thời gian vừa qua cũng xuất phát từ những lời bịa đặt xuyên tạc đó. Bản tin Thông tin nội bộ, một lần nữa nói rõ cái gọi là “Mật ước Thành đô” để nhân dân nâng cao cảnh giác…

 

Nhìn từ bối cảnh

Trong những năm cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, tình hình thế giới chuyển biến vô cùng to lớn và sâu sắc. Chủ nghĩa xã hội lâm vào thời kỳ thoái trào, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lần lượt sụp đổ; chiến tranh lạnh đang đi đến hồi kết thúc, cục diện thế giới “2 cực” không còn tồn tại; Mỹ trở thành siêu cường duy nhất; các nước xã hội chủ nghĩa còn lại gặp rất nhiều khó khăn, thách thức, trong đó có Việt Nam.

Từ những năm 1979 – 1990, Việt Nam phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc và âm mưu “diễn biến hoà bình” của Mỹ, phương Tây; bị bao vây, cấm vận, cô lập. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 13 của Bộ Chính trị (khoá VI), tháng 5/1988 đã đề ra chủ trương bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc và các nước quan trọng khác, phá thế bao vây, cấm vận, tạo dựng môi trường hoà bình, thực hiện công cuộc đổi mới.

Về phía Trung Quốc, sau sự kiện Thiên An Môn (6/l989) cũng gặp nhiều khó khăn về đối nội và đối ngoại, bị Mỹ và phương Tây trừng phạt kinh tế, cô lập về ngoại giao. Để phá thế bị bao vây, cô lập, Trung Quốc ưu tiên giải toả quan hệ với Mỹ và phương Tây, đồng thời đẩy mạnh cải thiện quan hệ với các nước láng giềng trong khu vực, trong đó có Việt Nam. Ngày 12/8/1990, trong chuyến thăm ba nước In-đô-nê-xi-a, Sin-ga-po và Thái Lan, Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc lúc bấy giờ là Lý Bằng tuyên bố: “Trung Quốc hy vọng cuối cùng sẽ bình thường hoá quan hệ với Việt Nam”. Tiếp đó, tại Hội nghị 15 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc (khoá VII), Thủ tướng Trung Quốc – Lý Bằng nói: Việt Nam là nước láng giềng của Trung Quốc, Trung Quốc sẵn sàng cùng Việt Nam thảo luận vấn đề bình thường hoá quan hệ Trung – Việt. Xuất phát từ mục đích đó, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc lúc bấy giờ là Giang Trạch Dân đã mời Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam thăm chính thức Trung Quốc.

Nội dung hội đàm và tuyên bố chung

Nhận lời mời của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân và Thủ tướng nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa – Lý Bằng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, lúc bấy giờ là đồng chí Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đồng chí Đỗ Mười, Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí Phạm Văn Đồng đã sang thăm Trung Quốc từ ngày 03 – 04/9/1990. Tháp tùng các đồng chí lãnh đạo cấp cao Việt Nam có Chánh Văn phòng Trung ương Đảng – Hồng Hà, Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Hoàng Bích Sơn và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đinh Nho Liêm.

Hai bên đã tiến hành Cuộc gặp cấp cao tại thành phố Thành Đô (Trung Quốc). Tham dự cuộc gặp, về phía Trung Quốc có Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân và Thủ tướng nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Lý Bằng.

Cuộc gặp cấp cao Thành Đô đã tiến hành trao đổi thẳng thắn về tình hình thế giới và khu vực, các nguyên tắc và phương hướng phát triển quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước và Nhân dân hai nước. Cuộc gặp đã đạt một số nhận thức chung trong các vấn đề sau: Chấm dứt tuyên truyền chống đối nhau; thông qua hoà bình thương lượng giải quyết các bất đồng, tranh chấp, đặc biệt các tranh chấp về lãnh thổ trên đất liền và trên biển; sớm nối lại quan hệ kinh tế, văn hoá, khoa học – kỹ thuật, giao thông liên lạc và các mối quan hệ khác; khôi phục và bổ sung các hiệp định đã ký kết giữa 2 nước mà 2 bên thấy cần thiết; xem xét để các tỉnh 2 bên biên giới có thể gặp nhau bàn bạc, trao đổi những người bị bắt; trao đổi đoàn thăm nhau và tổ chức để lãnh đạo 2 nước gặp nhau.

Văn kiện kết thúc Cuộc gặp Thành Đô đã ghi: “Hai bên đã trao đổi ý kiến về việc khôi phục quan hệ giữa hai Đảng và hai nước, từng bước cải thiện quan hệ hai Đảng, hai nước tiến tới thực hiện bình thường hoá”.

Biên bản làm việc và các tài liệu khác về Cuộc gặp cấp cao tại Thành Đô khẳng định lập trường và đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng ta, góp phần tạo môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước.

Trong hội đàm, trao đổi không hề có vấn đề phía Trung Quốc gây sức ép với ta về nhân sự, không hề có cái gọi là sự thoả thuận rằng: “Việt Nam sẽ thành khu tự trị thuộc Trung Quốc, giống như Nội Mông, Tân Cương và Quảng Tây vào năm 2020…”, như thông tin trên một số trang mạng, blog đã đưa. Đây là một luận điệu bịa đặt với ý đồ kích động, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và hoang mang trong các tầng lớp nhân dân.

Thừa nhận rằng, những năm gần đây, hành vi lấn biển của Trung Quốc không những đã làm cho toàn dân Việt Nam và Kiều bào ta ở nước ngoài vô cùng bức xúc mà dư luận cả thế giới cũng đều lên án. Đảng, Nhà nước ta không hề nhân nhượng, thể hiện rõ quan điểm trong việc giải quyết vấn đề. Mọi hành vi của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa và các đảo mà Trung Quốc chiếm đóng ở Trường Sa đều bị lên án và yêu cầu chấm dứt ngay lập tức. Mới đây, người phát ngôn Bộ Ngoại giao cũng đã kịch liệt phản đối Trung Quốc quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa, yêu cầu đưa toàn bộ vũ khí, khí tài ra khỏi các các đảo mà Trung Quốc chiếm đóng của Việt Nam. Đảng ta, Nhà nước ta nhận thức sâu sắc rằng việc ổn định và phát triển quan hệ láng giềng hữu nghị với Trung Quốc là vô cùng quan trọng nhưng chủ quyền đất nước là thiêng liêng, là bất khả xâm phạm mà không có thứ vật chất hay tình cảm nào có thể đổi trao. Vậy nên, mỗi một người dân Việt Nam hãy nêu cao tinh thần cảnh giác, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, vì an ninh Quốc gia, vì sự ổn định và phát triển của đất nước.

Nhận diện thủ đoạn “quân bài gian lận”

Từ những chứng cứ nói trên, nhận diện rằng, các thế lực thù địch đã sử dụng thủ đoạn “quân bài gian lận” để khoét sâu sự hoài nghi của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Chúng lợi dụng sự kiện, vấn đề có thật rồi cài cấy những thông tin, những chi tiết không có thật do chúng bịa ra nhằm đánh lừa nhận thức độc giả để xuyên tạc sự thật, để lôi kéo, kích động chống Đảng, Nhà nước, bài xích đi đến lật đổ chế độ. Câu chuyện bịa đặt về cái gọi là “Mật ước Thành đô” là một trong rất nhiều những câu chuyện điển hình như vậy và không khó lắm để chúng ta nhận diện sự cực kỳ vô lý của nó. Vô lý vì “mật ước” không phải là thông tin công khai mà ai cũng biết, vậy nên cái gọi là “Mật ước Thành đô” là một sự bịa đặt thông tin lợi dụng sự kiện có thật; vô lý còn bởi nó không đúng với truyền thống yêu nước và tinh thần quật cường của dân tộc qua hàng ngàn năm dựng và giữ nước; và vô lý còn bởi nó ngược với ý nguyện ngàn đời “không có gì quý hơn độc lập tư do” trong dòng lịch sử dân tộc.

Vì lẽ đó, khẳng định: Không thể và không bao giờ có cái gọi là “Mật ước Thành đô”.

Hoài Trung!

MỘT KẺ VÔ ƠN, BẠC NGHĨA


Tranh thủ lướt mạng xem tin tức, tình cờ tôi đọc được bài viết của ông Hà Sĩ Phu đăng trên blog Tiếng Dân ngày 30/4/2018 với nhan đề: Tản mạn quanh chuyện “Đại thắng” hay “Quốc hận”; là một công dân bình thường như bao người dân đất Việt khác nhưng khi đọc bài viết của ông tôi hết sức phẫn nộ và uất ức. Uất ức thay cho biết bao thế hệ cha ông đã ngã xuống, đổ máu xương để cho ông, gia đình ông có được cuộc sống hòa bình, yên vui như ngày hôm nay…

Trong bài viết, ông đã cố tình bôi nhọ, xuyên tạc Đại thắng mùa Xuân năm 1975 của dân tộc ta và cho đó là “Quốc hận” vì miền Bắc thắng miền Nam ? Giải phóng dân tộc, thống nhất non sông, Bắc, Nam sum họp một nhà mà ông lại cho là “Quốc hận” sao ??? Những người thuộc thế hệ như tôi và ông chắc chắn đã trải qua và quá thấm thía những năm tháng tối tăm sống trong cảnh  nước mất, nhà tan, đời nô lệ, đọa đầy dưới ách thống trị của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Vậy mà sao ông lại có thể tráo trở, ăn cháo đá bát đến như vậy. Tôi không hiểu bộ óc của ông dùng để làm gì ? Hay trong đó chỉ là một thứ “bã đậu” nên ông không biết phân biệt được cái gì đúng, cái gì sai ?

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy được rằng nếu không giải phóng được miền Nam, thống nhất đất nước thì dân ta sẽ còn phải chịu khổ đau, còn bị đọa đầy trong cảnh lầm than, nô lệ; sống phải cúi đầu chịu sự “sai bảo, áp bức” của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai; nên Người đã đưa ra lời kêu gọi: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”.  Lời kêu gọi ấy đã làm lay động hàng triệu triệu con tim đất Việt, từ Nam ra Bắc, từ trẻ đến già, tất cả đồng lòng nhất tề đứng lên chống giặc ngoại xâm.

Sau hơn 20 năm trường kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hàng triệu người con đất Việt đã không tiếc máu xương, anh dũng hy sinh; máu của họ đã nhuộm đỏ dòng sông Bến Hải, thành cổ Quảng Trị và trên mỗi tấc đất của dải đất hình chữ S này để quyết giành cho được độc lập, tự do. Vậy mà Hà Sĩ Phu lại tráo trở cho rằng Đại thắng mùa Xuân 1975 là “Quốc hận”, là “Cộng Sản thắng, còn nhân dân thì thua đậm”.

Xin hỏi ông “nhân dân thua đậm” ở chỗ nào ??? Không lẽ nhân dân đổ máu xương để giành độc lập, tự do về cho chính mình lại là “thua đậm” ???

Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, Việt Nam đi lên từ đống tro tàn và đổ nát; cả nước phải ra sức tập trung khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại, phá thế bao vây cấm vận và tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Chúng ta đã thoát khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu, trở thành nước đang phát triển và có mức thu nhập trung bình. Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt gần 7%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, công nghiệp và dịch vụ đã chiếm trên 83% trong tổng GDP. Quy mô và tiềm lực của nền kinh tế không ngừng tăng lên; GDP tăng gấp gần 7 lần và kim ngạch xuất khẩu tăng gấp hơn 200 lần. GDP bình quân đầu người từ 100USD trước đổi mới tăng lên trên  2.400 USD hiện nay; cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng có những bước chuyển biến đột phá, bộ mặt nông thôn cũng như thành thị không ngừng được đổi mới, ngày càng khang trang, to đẹp hơn…

Mặc dù hiện  nay, đất nước chúng ta chưa bằng một số nước trong khu vực và thế giới ở một số lĩnh vực, nhưng chúng ta rất đỗi tự hào là đã đi lên và đứng vững trên đôi chân của chính mình, chúng ta độc lập và tự chủ trong đường lối đối nội và đối ngoại… không phụ thuộc và chịu ảnh hưởng của bất kỳ ai, bất cứ quốc gia nào.

Những con số và hình ảnh “biết nói” trên đã cho thấy và chứng minh tất cả; trên 90 triệu con dân đất Việt họ đều cảm thấy tự hào, vui mừng và phấn khởi khi đất nước đang thay da đổi thịt từng ngày. Ngày nay khi bước ra đấu trường quốc tế, Việt Nam luôn ngẩng cao đầu để sánh vai với các cường quốc khác trên tất cả các lĩnh vực…

Tất cả điều đó ông cho rằng “nhân dân thua đậm sao” ? Phải chăng Hà Sĩ Phu và những người có cùng suy nghĩ như ông thích cuộc đời “nô lệ”, thích “gọi dạ, bảo vâng”  sống như kiếp ngựa, trâu thì mới gọi là “chiến thắng” chăng !!!

Một công dân bình thường như tôi, sinh ra và lớn lên trong khi đất nước còn loạn lạc, lầm than, chúng tôi quá thấu hiểu thế nào là nỗi nhục của kẻ nước mất, kẻ làm nô lệ. Có cuộc chiến tranh nào mà không đổ máu, không chịu sự mất mát, hy sinh ?  Nhưng sự hy sinh, mất mát của dân tộc Việt Nam trong cuộc chiến tranh vĩ đại ấy là vì độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, là cuộc chiến tranh cách mạng chính nghĩa để thực hiện khát vọng thiêng liêng của mình đó là: mọi người dân được sống trong một đất nước hòa bình, thống nhất, độc lập, tự do, hạnh phúc. Nếu cuộc chiến tranh ấy là “phi nghĩa, là sự ve vãn, ảo tưởng, cực đoan dẫn đến sự tàn phá xã hội đến mức tan hoang” như ông nói thì liệu cả dân tộc Việt Nam, triệu người như một có nhất tề đứng lên, sẵn sàng hy sinh tính mạng, đánh đổi máu xương của mình để giành lấy độc lập, tự do không ???

Có lẽ Hà Sĩ Phu “cố tình” nhầm lẫn giữa cuộc chiến tranh chính nghĩa của Việt Nam với các cuộc chiến tranh phi nghĩa nào khác ? Nên ông còn đem Việt Nam ra so sánh với Đức và Triều Tiên; một sự so sánh hết sức phi lý và khập khiễng. Thử hỏi ông, vậy cuộc gặp liên Triều giữa tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in và nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un ngày 27/4/2018 vừa qua  là vì điều gì ???  Không phải tất cả cũng vì sự thống nhất non sông để  đem lại cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân hai miền Nam, Bắc Triều Tiên hay sao ? Vậy mà ông cũng có thể đem ra so sánh; nói như cách ví của ông, tôi cho rằng đó là một “sự so sánh ngu si và đần độn”.

Sau 43 năm Đại thắng mùa Xuân 1975, chúng ta hôm nay và các thế hệ con cháu mai sau vẫn mãi luôn tự hào và ngẩng cao đầu với thế giới rằng: “Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là thắng lợi của lòng yêu nước nồng nàn – của khát vọng hòa bình, độc lập, tự do và thống nhất đất nước của đồng bào ta; của đường lối và nghệ thuật quân sự Việt Nam dưới sự lãnh đạo đúng đắn, tài tình, sáng tạo của Đảng ta; của sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; của lòng trung thành tuyệt đối và tinh thần quyết chiến, quyết thắng của các lực lượng vũ trang nhân dân với sự chỉ huy thao lược của các vị Tướng lĩnh tài ba; của tình hữu nghị và sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn, hiệu quả của bạn bè quốc tế”.

Đại thắng mùa Xuân năm 1975 sẽ mãi mãi là mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc , là đỉnh cao của tinh thần quyết chiến, quyết thắng vì độc lập dân tộc của quân và dân ta; điều này đã được cả thế giới ngưỡng mộ, tôn vinh và thừa nhận. Chỉ có Hà Sĩ Phu và một số kẻ ngu muội như ông  mới không thấy, không hiểu hoặc cố tình không hiểu; lấy oán trả ơn, ăn cháo, đá bát để nhận lấy sự “bố thí bởi mấy đồng tiền nhơ bẩn” trên máu xương của đồng bào mình./.

Trâm Anh