Tính chính danh, chính nghĩa của cờ đỏ sao vàng.
Từ sau ngày thống nhất đất nước đến nay, các thế lực chống cộng cực đoan ở hải ngoại dùng “cờ vàng ba sọc đỏ” (cờ vàng) làm biểu tượng chống cộng và gọi đó là cờ Quốc gia Việt Nam. Họ tiêm nhiễm vào thế hệ trẻ hải ngoại rằng cờ vàng là cờ chính nghĩa, tự do; còn “cờ đỏ sao vàng” (cờ đỏ) là lá cờ tắm máu của đồng bào Miền Nam Việt Nam. Phải chăng đó là sự ngộ nhận về tính chính danh, chính nghĩa xuất phát từ nhận thức sai lệch về lịch sử hay đó là sự cố tình xuyên tạc lịch sử xuất phát từ căn nguyên gốc rễ của hận thù. Xin luận đàm về câu chuyện này, ngõ hầu cùng các bạn nhận diện rõ ràng, dứt khoát về tính chính nghĩa và hư danh của cờ đỏ, cờ vàng.
Trước hết tôi xin nói về sự ra đời của cờ đỏ sao vàng. Ngay từ đầu năm 1940, Đảng ta đã có chủ trương và ý tưởng sáng tác mẫu lá cờ phù hợp nhất làm biểu tượng để tập hợp, đoàn kết, cổ vũ động viên các tầng lớp Nhân dân trong các cuộc đấu tranh cách mạng. Hưởng ứng chủ trương này, lãnh đạo Xứ ủy Nam Kỳ đã chủ động xây dựng ý tưởng và cho ra đời lá cờ đỏ sao vàng nhằm kịp thời phục vụ cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ theo kế hoạch đã đề ra. Ngày 23 tháng 11 năm 1940, Chính quyền Cách mạng tỉnh Mỹ Tho được thành lập và tổ chức cuộc mít-tinh với hơn 3.000 người tham dự tại Đình Long Hưng. Lần đầu tiên lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện và tung bay trên ngọn cây bàng trước Đình Long Hưng.
Đến giữa tháng 5 năm 1941, tại Pắc Bó (Cao Bằng), Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 quyết định thành lập tổ chức Việt Nam Độc lập Đồng Minh, ghi rõ: “ Sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp-Nhật, sẽ lập nên Chính phủ Nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy lá cờ đỏ sao vàng làm Quốc kỳ.” Hơn 4 năm sau, ngày 16/8/1945, Quốc dân Đại hội Tân Trào đã ra quyết nghị lấy “cờ đỏ sao vàng” làm Quốc kỳ của nước Việt Nam Độc lập. Đáng lưu ý, chỉ 14 ngày sau đó, lúc 4 giờ chiều 30/8/1945, vua Bảo Đại đã đọc chiếu thoái vị, trao ấn tín cho đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước Ngọ Môn Huế. Tại buổi lễ thoái vị này, “Hoàng kỳ” được hạ xuống, cờ đỏ sao vàng chính thức thượng kỳ trước sự chứng kiến của vua Bảo Đại cùng hoàng tộc và hàng vạn đồng bào kinh thành Huế! Đó là thời khắc lịch sử chuyển giao từ chế độ quân chủ bù nhìn sang chế độ dân chủ của dân. Kể từ thời khắc lịch sử đặc biệt đó, “cờ đỏ sao vàng” trở thành biểu tượng thiêng liêng của Tổ quốc mà không bất cứ ai có quyền phủ nhận. Và ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, chính thức khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong rừng cờ đỏ sao vàng tung bay rợp trời Quảng trường Ba Đình lịch sử.
Để chính thức hóa Quốc kỳ Việt Nam, ngày 5 tháng 9 năm 1945, Đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký ban hành Sắc lệnh số 5 “Về việc ban hành Quốc kỳ Việt Nam; Quốc kỳ có hình chữ nhật, bề ngang hai phần ba bề dài; nền màu đỏ tươi, giữa có sao năm cánh màu vàng tươi”.
Sau cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên tháng 01 năm 1946, kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tán thành và biểu quyết thông qua cờ đỏ sao vàng chính thức là cờ Tổ quốc Việt Nam.
Như vậy, có ít nhất là 5 cơ sở pháp lý và dân lý để chúng ta khẳng định về tính chính danh và chính nghĩa không thể chối cãi của cờ đỏ sao vàng.
– Một là cờ đỏ sao vàng ra đời từ ngày 23 tháng 11 năm 1940,được Quốc dân Đại hội Tân Trào (đại diện toàn dân) công nhận và ra quyết nghị là Quốc kỳ của nước Việt Nam Độc lập tại kỳ họp ngày 16/8/1945.
– Hai là trong những ngày sục sôi CMT8, Nhân dân ta đã cầm cờ đỏ sao vàng đứng lên khởi nghĩa.
– Ba là sự chuyển giao từ Hoàng kỳ Bảo Đại sang Quốc kỳ (cờ đỏ sao vàng) của chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa.
– Bốn là được công bố trên toàn thế giới từ ngày 02/9/1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức đọc bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dưới rừng cờ đỏ sao vàng.
– Năm là được khẳng định tại kỳ họp đầu tiên Quốc hội khóa đầu tiên tháng 01 năm 1946 với đầy đủ các thành phần và đảng phái trong quốc hội.
– Sáu là được hiến định tại Hiến pháp năm 1946, 1959 và 1976.
Hiện hữu không có nghĩa là chính nghĩa, hữu danh.
Cờ là đại diện cho chủ quyền quốc gia, là biểu tượng thiêng liêng của đất nước dân tộc, vì vậy cờ Tổ quốc của bất kỳ quốc gia nào cũng có ý nghĩa đặc trưng và thiêng liêng. Nếu “cờ đỏ sao vàng” là chính danh, chính nghĩa thì chúng ta nghĩ như thế nào về “cờ vàng”, nó có chính danh, chính nghĩa không? Nếu không thì phải gọi là cờ gì?
Chúng ta không phủ nhận sự hiện hữu của “cờ vàng” trong lịch sử. Nhưng hiện hữu không có nghĩa là chính nghĩa, hữu danh. Tôi xin chia ra 3 giai đoạn để cùng nhận diện.
– Giai đoạn từ 1890 đến 1920.
Thứ nhất, tạm cho là giai đoạn Vua Thành Thái kế nhiệm trị vì đất nước từ vua Đồng Khánh đã thay Đại Nam Đế Kỳ bằng Đại Nam Quốc Kỳ như nhà báo Lê Quang vừa nói. Tuy nhiên, đây chỉ là sự thay đổi tên gọi bởi lúc bấy giờ đất nước ta nằm dưới chính thể quân chủ, lại bị thực dân Pháp cai trị nên bản chất cũng chỉ là Hoàng kỳ, vì vậy cờ vàng không thể là cờ Tổ quốc đúng nghĩa đại diện cho lòng dân trăm họ.
Thứ hai: Đại Nam Quốc kỳ (nếu có) thì cũng đã bị chấm dứt vai trò lịch sử vào năm 1920, khi vua Khải Định kế nhiệm vua Thành Thái, thay cờ vàng bằng “Long tinh Đế kỳ”.
– Giai đoạn thứ hai từ 1949 – 1955. Điểm mấu chốt của giai đoạn này để chúng ta khẳng định cờ vàng có chính danh, chính nghĩa hay không.
Thứ nhất: Việt Nam đã độc lập từ ngày 2/9/1945, lúc bấy giờ Quốc kỳ của nước ta là cờ đỏ sao vàng và tính chính danh được khẳng định. Tôi xin làm rõ thêm: Tại kỳ họp quốc hội đầu tiên diễn ra vào ngày 2 tháng 3 năm 1946, với sự tham gia của 403 đại biểu, trong đó có cả đại diện các đảng phái: Việt Minh, Đảng Dân chủ , Đảng Xã hội, Việt Cách (Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội), Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân Đảng) và 143 đại biểu không thuộc đảng phái nào. Kỳ họp này đã thống nhất biểu quyết lấy cờ đỏ sao vàng làm cờ Tổ quốc. Đây là cơ sở pháp lý khẳng định tính chính danh và chính nghĩa của cờ đỏ sao vàng bởi được sự tán thành của nhiều đảng phái, không có chuyện áp đặt tư tưởng của Đảng cộng sản.
Thứ hai: Cờ vàng tái xuất hiện vào năm 1949; là biểu tượng của một chính phủ được lập nên từ sự chiếm đóng của ngoại bang đối với một đất nước đã độc lập, có chủ quyền dưới sự quản lý, điều hành của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Khẳng định, việc xâm chiếm đó là phi pháp; cờ của chính phủ được dựng bởi sự xâm chiếm, nó là biểu tượng của sự phi nghĩa.
Thứ ba: Cờ vàng được sử dụng từ năm 1949, tức là sau 3 năm Cờ đỏ được chính thức hiến định là cờ Tổ quốc Việt Nam; vì vậy, không thể và không bao giờ có một lá cờ chính danh nào khác cùng song hành .
Thứ tư: Tại Hiệp định Geneve, thực dân Pháp đã cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại cả hai miền Bắc và Nam vĩ tuyến 17. Nghĩa là Pháp đã thừa nhận: Việt Nam không có bất kỳ một chính phủ nào khác ngoài Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều đó chứng minh sự hiện hữu của “cờ vàng” trong thời gian trước đó là vô nghĩa và không có lý do để tồn tại.
Giai đoạn thứ ba từ 1955 – 1975.
Sau khi thực dân Pháp rút khỏi Việt Nam, Mỹ thế chân Pháp tiếp tục cái gọi là bảo hộ chính quyền do Pháp dựng lên rồi thay tên đổi họ thành “đệ nhất và đệ nhị Việt Nam cộng hòa”. Họ tiếp tục sử dụng cờ vàng làm Quốc kỳ Việt Nam cộng hòa. Đây là 2 chính phủ cũng được đẻ ra từ sự xâm lược nên cờ vàng không có tư cách là cờ Tổ quốc Việt Nam.
Tôi không phủ nhận sự hiện hữu của cờ vàng trong dòng chảy của lịch sử Việt Nam, nhưng phán xét tính chính danh, chính nghĩa của nó phải bằng lý tính chứ không phải bằng cảm xúc. Theo góc nhìn của tôi, cờ vàng từ thời vua Thành Thái (nếu có – vì chưa khẳng định tính chính xác thực của nó) thì cũng đã không còn ý nghĩa khi mà chính các hậu duệ triều Nguyễn đã xóa bỏ; còn cờ vàng tái xuất hiện sau này đều là biểu tượng cho sự xâm lược của ngoại bang và của chính phủ bù nhìn; nó đại diện cho cái ác; không đủ tư cách đại diện cho chủ quyền và hình ảnh của Tổ quốc Việt Nam.
Đừng đánh giá lịch sử bằng yêu thương hay ghét bỏ
Mặc dù vậy, các thế lực chống cộng cực đoan hải ngoại vẫn sử dụng cờ vàng để làm biểu tượng chống cộng, họ gọi đó là cờ chính nghĩa Việt Nam Cộng hòa; một số người thì gọi là cờ của tự do và di sản của người Việt hải ngoại, chúng ta nhìn nhận vấn đề này như thế nào? Tôi cho rằng, họ gọi gì là quyền của họ, bởi có thể là do ngộ nhận; do nhận thức chưa đầy đủ, sai lầm, do thiếu hiểu biết hoặc là do cảm tính và cũng không loại trừ có những người bị ép buộc. Một số bạn trẻ hải ngoại thì họ chưa ý thức được giá trị và ý nghĩa của cờ Tổ quốc, họ bị tiêm nhiễm tư tưởng hận thù của cha ông gia đình họ. Chúng ta cần phải phân loại ra thì mới có sự nhìn nhận đánh giá thấu đáo.
Một là những người cố tình phớt lờ lịch sử vì họ thừa biết cờ vàng không thực danh để đại diện cho quốc gia, dân tộc.
Hai là những người chỉ dựa vào cảm tính, yêu, ghét mà không cần biết cờ vàng có giá trị hay không và nó đại diện cho cái gì.
Ba là những người “nói leo và làm theo”, không có chính kiến.
Đặc biệt thứ tư là những người lợi dụng cờ vàng để tập hợp, lôi kéo người khác vào tổ chức của mình hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chính quyền và quyên góp tiền tiêu xài.
Không thể gọi cờ vàng là cờ tự do và di sản vì di sản văn hóa là các sản phẩm bao gồm vật chất và tinh thần có giá trị lịch sử – văn hóa – khoa học được chính thức lưu truyền từ đời này sang đời khác. Ở góc nhìn vật thể thìdi sản văn hóa bao gồm: Di tích lịch sử – văn hóa; danh lam thắng cảnh; di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Ở góc nhìn phi vật thể thìdi sản văn hóa là các sản phẩm mang yếu tố tinh thần gắn liền với cộng đồng hoặc cá nhân vật thể và không gian văn hóa liên quan. Các di sản văn hóa phi vật thể có thể kế đến như: Tiếng nói, chữ viết; văn hóa dân gian; tập quán xã hội và tín ngưỡng… Đối chiếu với khái niệm trên thì cờ vàng không thuộc nhóm di sản nào, nó không phải là di vật, cổ vật hay bảo vật quốc gia, cũng không phải là tài sản quốc gia phải giữ gìn để lưu truyền hậu thế. Vì vậy, không thể gọi cờ vàng là cờ di sản. Còn nói đó là lá cờ của tự do cũng không đúng vì cờ vàng được “đẻ” ra dưới sự cai trị của ngoại bang thì làm gì có tự do mà đại diện cho tự do.
Từ năm 1949 đến nay, cờ vàng chưa bao giờ là chính nghĩa, hữu danh và đến nay nó không được Liên Hiệp Quốc hay bất kỳ quốc gia nào trên thế giới công nhận. Mặt khác, không phải người Việt nào ở hải ngoại cũng sử dụng cờ vàng mà chỉ có một số cựu ngụy quân, ngụy quyền và số ít thân hữu của họ tung hô, nên nó cũng không là biểu tượng chung cho cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Và như đã phân tích, cờ vàng cũng không hội đủ các yếu tố để gọi là “Lá cờ tự do và di sản”.
Đã 76 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời Tuyên ngôn Độc lập 02/9/1945; cờ đỏ sao vàng đã cùng dân tộc Việt Nam đi suốt chặng đường dài gìn giữ và xây dựng đất nước, hiên ngang tung bay khắp mọi miền châu lục; là biểu tượng của hồn thiêng nước Việt, là niềm tự hào của mỗi một người dân Việt Nam dù sống ở bất kỳ đâu.
Chúng tôi, những người làm báo Lâm Đồng luận đàm vấn đề này nhằm một thông điệp duy nhất là đừng đánh giá lịch sử bằng sự yêu thương hay ghét bỏ; đừng áp đặt lịch sử bằng tư tưởng hận thù; đừng bóp méo làm biến dạng lịch sử vì hư danh, vì hoang tưởng, dã tâm mà đắc tội với tiền nhân và hậu thế.
Văn Tòa
Bạn phải đăng nhập để bình luận.