TRỊNH XUÂN THANH ĐẦU THÚ VÀ SỰ NÁO LOẠN THÔNG TIN


Kể từ khi Trịnh Xuân Thanh ra đầu thú tại Cơ quan An ninh điều tra – Bộ Công an ngày 31/7/2017 được chính thức loan tin trên phương tiện thông tin đại chúng, thì thông tin này đã làm dậy sóng các trang mạng xã hội với vô vàn thông tin thực thực hư hư. BBC tiếng Việt lập tức thực hiện ngay cuộc đối thoại bàn tròn với các nhà báo dỏm, luật sư không hàm, thao thao về thông tin thêu dệt cùng những dự đoán mù mịt về tương lai trong quan hệ ngoại giao giữa Cộng sản Việt Nam (VN) và Đức. Các thế lực thù địch trong nước cấu kết với phản  động người Việt nước ngoài lợi dụng sự kiện trên để xiên xỏ, chửi rủa lãnh đạo Đảng, Nhà nước trình độ thấp kém, chơi kiểu luật rừng, làm phương hại đến ngoại giao, tổn hại đến lợi ích kinh tế của đất nước. Chúng tung ra không ít luồng thông tin không xác thực bắt đầu từ phát ngôn của Bộ Ngoại giao Đức rồi để kết luận rằng cơ quan An ninh VN đã bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại thủ đô Berlin rồi đưa về nước.

 

Đáng tiếc cho phát ngôn của Người phát ngôn CHLB Đức.

Nói về phát ngôn của Bộ Ngoại giao Đức, Tiến sĩ, Luật sư Trần Đình Triển cho rằng: Đó là phát ngôn thiếu thận trọng, vội vàng, chưa phù hợp nguyên tắc các Công ước quốc tế mà VN và CHLB Đức đã tham gia ký kết”, Luật sư Triển nói rõ: “Trước hết phía Đức phải công nhận Trịnh Xuân Thanh đã bị VN khởi tố và có lệnh truy nã quốc tế về các tội tham nhũng, rửa tiền; Trịnh Xuân Thanh không thuộc diện để áp dụng giải quyết cư trú chính trị”. Trịnh Xuân Thanh có đơn xin cư trú nhưng chưa được nhà nước Đức cho phép thì nơi cư trú của Trịnh Xuân Thanh đương nhiên vẫn ở VN; VN và Đức đều là thành viên của Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (Interpol), thông qua tổ chức này, VN đã phát lệnh truy nã quốc tế đối với Trịnh Xuân Thanh, thì đương nhiên Cảnh sát Đức có trách nhiệm phối hợp với Cảnh sát quốc tế và Cảnh sát VN thực hiện lệnh truy nã đó. Nói về chống tham nhũng theo Công ước quốc tế (2003), Đức là thành viên, VN cũng là thành viên; những điều khoản trong Công ước này quy định rõ trách nhiệm của các nước thành viên phối hợp và tạo điều kiện cho nhau cùng thực hiện chống tham nhũng. Trịnh Xuân Thanh là tội phạm tham nhũng thì Đức phải có trách nhiệm tạo điều kiện cho VN xử lý Trịnh Xuân Thanh. Tiến sĩ, Luật sư Trần Đình Triển nói thêm rằng: Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Công ước Palermo). VN đã khởi tố vụ án tham nhũng có tổ chức mà Trịnh Xuân Thanh là 1 đối tượng. Căn cứ vào Công ước này, đáng lẽ nhà nước Đức phải giúp đỡ VN điều tra xem số tiền mà nhóm đối tượng này tham nhũng có được biến tướng qua tiền gửi ngân hàng, mua bất động sản, đầu tư,… tại Đức để giúp VN xử lý; Nhóm các nước G7 (Đức là thành viên) là tổ chức đầu tiên kiến nghị cần có cam kết chung toàn cầu về đấu tranh chống rửa tiền, VN là thành viên của nhóm Châu Á Thái Bình Dương về phòng chống rửa tiền. Như vậy, nhà nước Đức không thể đứng ngoài cuộc trong vụ Trịnh Xuân Thanh khi ông ta trốn tại Đức. Tổ chức minh bạch quốc tế – TI, trụ sở tại Berlin – Đức, có chi nhánh hơn 100 nước trên thế giới và có chi nhánh tại Hà Nội (Hướng tới minh bạch) với tiêu chí là hợp tác, đánh giá, xếp hạng, khuyến cáo,… về chống tham nhũng. Lẽ nào nhà nước Đức lại làm ngơ trước cam kết của tổ chức này? Trịnh Xuân Thanh đang là công dân Nước CHXHCN Việt Nam thì ông ta phải chấp hành luật pháp VN và được pháp luật VN bảo hộ. Nếu căn cứ Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị; thì cá nhân Trịnh Xuân Thanh có quyền về VN đầu thú, không ai có quyền can thiệp vào ý nguyện hợp pháp đó. Chính vì vậy mà phát ngôn của Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam đã lấy làm tiếc về sự thiếu chuẩn trong phát ngôn của người đồng cấp Bộ Ngoại giao CHLB Đức.

 

Sự rối loạn thông tin.

Xuất phát từ những nguồn tin chưa được kiểm chứng, trang mạng “Thời báo”, chuyên mục “Người Việt tại Đức” của một tổ chức chống VN tại Đức đã tung ra thông tin rằng các nhân viên an ninh VN đã bắt cóc Trịnh Xuân Thanh ngay giữa thanh thiên bạch nhật ở Berlin rồi đưa qua Ba Lan và Belarus, sau đó bay về VN. Đáng lưu ý thông tin mà chúng đưa ra tiền hậu bất nhất, có lúc thì nói rằng Trịnh Xuân Thanh bị bắt cóc ngay chỗ trọ; nhưng có lúc thì nói ông Thanh bị bắt cóc tại công viên. Mặc dù không có chứng cứ đáng tin cậy nhưng người phát ngôn Bộ Ngoại giao Đức vẫn tuyên bố rằng An ninh VN tổ chức bắt cóc Trịnh Xuân Thanh. Ngay sau đó, trên các trang mạng của những phần tử thù địch đã vội vàng loan tin rằng cơ quan An ninh VN “bắt cóc” Trịnh Xuân Thanh tại Đức với hàng loạt tình tiết được thêu dệt, suy đoán ly kỳ rồi quy kết VN vi phạm Công pháp quốc tế, làm tổn hại đến uy tín đất nước, giảm sút niềm tin trong công tác đối ngoại và đặc biệt là ảnh hưởng tồi tệ đến sự bang giao giữa VN với CHLB Đức và khối EU. Chúng cố tình lờ đi chuyện Trịnh Xuân Thanh đang là tội phạm bị truy nã quốc tế, một “nhân vật đặc biệt” mà trong 300 ngày qua dư luận trong nhân dân VN chưa bao giờ hết nóng.

 

Lời kết

Mặc dù người phát ngôn Bộ Ngoại giao CHLB Đức khẳng định rằng việc bắt cóc Trịnh Xuân Thanh trên đất Đức có những bằng chứng không nghi ngờ và yêu cầu VN phải đưa Trịnh Xuân Thanh trở lại Đức ngay lập tức, để hồ sơ đề nghị dẫn độ và đơn xin tị nạn được xem xét theo đúng trình tự pháp lý. Tuy nhiên, điều đáng nói là phía Đức không thể đưa ra bằng chứng thuyết phục nào để chứng minh rằng Cơ quan An ninh VN đã “bắt cóc” Trịnh Xuân Thanh tại Đức. Còn VN, bằng chứng không thể thuyết phục hơn khi hình ảnh Trịnh Xuân Thanh với lá đơn tự thú (trường hợp này nên dùng từ đầu thú thì mới đúng) tại cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an VN đã được công khai rộng rãi trên sóng truyền hình VTV có độ phủ sóng không chỉ ở VN. Trong đơn xin đầu thú, ông Trịnh Xuân Thanh có viết: “Tôi thấy lo sợ trước kết luận về vi phạm của tôi và phải chịu trách nhiệm là người đứng đầu trong thua lỗ của PVC. Do lo sợ, suy nghĩ không hết, tôi đã quyết định trốn tại Đức.

Trong thời gian này cuộc sống trốn tránh, bấp bênh luôn lo sợ. Được sự động viên của gia đình, bạn bè, tôi đã về Việt Nam và ra đầu thú tại cơ quan an ninh điều tra để được hưởng sự khoan hồng của Đảng, Nhà nước và pháp luật”.

Và khi trả lời VTV1, ông Thanh nói: “Trong quá trình trốn chạy, mình cứ nghĩ về việc mình làm, thời điểm đó rất nông nổi, suy nghĩ không chín chắn, quyết định đi trốn. Trong quá trình như thế, mình thấy rằng mình cần phải về để đối diện với sự thật. Cái thứ hai nữa là mình về mình ngẫm lại, nhận thức được, báo cáo nhận khuyết điểm, xin lỗi. Gia đình đã động viên mình xin tự thú tại công an”.

Hiện tại, hầu hết người dân VN không cần biết Trịnh Xuân Thanh về đầu thú bằng cách nào, quan trọng nhất chính lòng dân hoan hỷ và cuộc chiến chống giặc nội xâm (tham nhũng) đến hồi “lò đã nóng” như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

 

HÀ SĨ PHU LẠI “BÒ NHAI RƠM” CỔ XÚY “BỎ ĐẢNG”


Ngày 26/7/2017, trên blog Doithoai phát tán bài viết của Hà Sĩ Phu (tức Nguyễn Xuân Tụ) với dụng ý phản bác Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam và thể chế chính trị nước ta, phủ nhận thành quả của cách mạng Việt Nam; xuyên tạc, bôi nhọ lãnh tụ… Luận điệu của Hà Sĩ Phu không có gì mới, vẫn chỉ là chuyện “bò nhai rơm”; song, trong bài viết này, tác giả cố ý xuyên tạc về bản chất Đảng, cổ súy “bỏ Đảng”.

 

Mở đầu bài viết, Hà Sĩ Phu (HSP) nêu câu chuyện với cách nói dối… dở ẹc; rằng có một cụ già 92 tuổi từ Hà Nội vào Đà Lạt du lịch tìm đến thăm ông. (Chắc HSP quá “nổi tiếng” nên vị khách chẳng quen biết đã mò mẫm đường xa tới thăm !). HSP bảo cụ già là đảng viên đã tự ý bỏ Đảng, song “chủ nhà” lại nói cái câu mà đứa trẻ nít cũng thấy vô lý đùng đùng là cụ già vào Đảng “Có lẽ cũng từ tiền khởi nghĩa” (?!)… Nói toẹt ra, ông đã bịa chuyện, tạo cái cớ để “nhập chuyện” biểu lộ dã tâm xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, bôi nhọ, nói xấu Bác Hồ !

Vẫn luận điệu cũ mèm, HSP tiếp tục xuyên tạc, phủ nhận, phản bác Chủ nghĩa Mác-Lênin; ông ta cho rằng “ảo tưởng, phi lý, phi dân chủ và phản tiến hóa”; Chủ nghĩa Mác – Lênin “như một cô gái đẹp nhưng ngớ ngẩn…”. Trong khi cả thế giới từ bỏ Chủ nghĩa Mác-Lê thì CSVN lại “tôn thờ”, khi “bị thế giới bóc trần” thì CSVN “cố thủ trước cơn bão táp sụp đổ của CS toàn thế giới và làn sóng dân chủ hóa đất nước… đảng giảm nhẹ dần Mác-Lê để rút về với Bác Hồ”. Từ đó, HSP bình luận: “những đảng viên thức thời nhất đã bỏ phắt cái đuôi Mác-Lê để cứu HCM và cũng để cứu mình khỏi chết chìm với con tàu CS thế giới…”. Ông ta xuyên tạc “HCM chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải người Cộng sản, chỉ dùng CS làm phương tiện”…

Xàm ngôn vậy mà HSP nào hay bất cứ người Việt Nam yêu nước nào cũng đều am hiểu, trong quá trình đi tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin; mang ánh sáng chủ Chủ nghĩa Mác- Lênin vận dụng vào điều kiện thực tế của cách mạng Việt Nam để lãnh đạo nhân dân đấu tranh đánh đuổi đế quốc xâm lược giành lại hòa bình, độc lập cho dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Cộng sản, trở thành một chiến sĩ Cộng sản lỗi lạc trong phong trào công nhân quốc tế đấu tranh cho phong trào dân tộc, dân chủ vì hòa bình trên toàn thế giới.

Bằng tư liệu nào, dẫn chứng gì mà HSP xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải người Cộng sản? Hay “chỉ dùng CS làm phương tiện”? Từ bao giờ Đảng Cộng sản Việt Nam “giảm nhẹ dần Mác-Lê để rút về với Bác Hồ”? Những đảng viên nào “thức thời nhất” đã cắt bỏ Mác-Lê để cứu HCM ? Họ là số ít hay số đông và bản thân có phải là đảng viên mẫu mực không, tư tưởng có bị “suy thoái”, “diễn biến” theo chiều hướng tiêu cực không? Cứu Hồ Chí Minh là cứu cái gì? v.v…

Trải qua 87 năm ra đời và lãnh đạo cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trung thành với Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động…”. Thành tựu nổi bật của cách mạng Việt Nam đã minh chứng con đường cứu nước, cứu dân và đưa dân tộc Việt Nam đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội do Chủ tịch Hồ Chi Minh và Đảng ta lãnh đạo dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định là sáng suốt, đúng đắn! Cớ chi HSP lại xảo trá đổi trắng thay đen, phủ nhận phi lý vậy? Rõ ràng đây là luận điệu của kẻ phản động !

Phẩm chất của con người Việt Nam bao đời nay là thủy chung sau trước. Được sống trong hòa bình, tự do và hạnh phúc hôm nay, không ai nỡ phụ lòng, bội bạc những mất mát, hy sinh của bao lớp tiền nhân có công khai quốc. Bác Hồ đã dạy “Hiểu chủ nghĩa Mác- Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa”; không ai bội bạc, miệng lưỡi độc địa của loài rắn độc như HSP !!!

Từ phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, HSP tiến tới xuyên tạc thành quả của cách mạng Việt Nam, bôi nhọ Bác Hồ. Ông ta cho rằng “HCM đã bị cái ảo tưởng “thế giới đại đồng” của CS che mắt nên không nhìn ra kẻ thù…”. Phản động nhất và cũng hết sức trâng tráo khi ông ta nói: “Chọn con đường Cộng sản để cứu nước và phát triển đất nước là sai lầm” (?).

Xuất phát từ tư tưởng cực đoan, chống đối cố hữu, HSP ra sức xuyên tạc “Việt Nam đi sai quy luật, phản khoa học nên xã hội không phát triển được”; Đảng CSVN độc quyền toàn trị; “do những ràng buộc của cá nhân HCM…” (HSP từng xuyên tạc Đảng CSVN ra đời trên đất Trung Quốc, Bác Hồ là con hoang của TQ) nên Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam dần dần bán đất, bán đảo, bán nước cho Tàu, lệ thuộc Trung Cộng… Từ đó, “đóng vai” một nhà “hiền triết”, “gàn sĩ” đưa ra “triết lý” hết sức phản động “Muốn Thoát Trung phải Thoát Cộng, muốn Thoát Cộng phải Thoát Hồ” (!).

Với “triết lý phản động” đó, HSP tích cực cổ xúy, hô hào “Thoát Cộng”, xúi dục, tác động, lôi kéo những “đảng viên lưng chừng” mà ông ta cho là “thức thời nhất” từ bỏ Đảng, quay lưng chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam; nỗ lực kêu gọi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”; đòi đổi tên Đảng, đổi tên nước…. Theo lý luận của HSP, tham gia trong Đảng là vô tình “Cõng rắn cắn gà nhà” hay “Rước rắn vào nhà”? Xảo ngôn tráo trở này đã xúc phạm đến danh dự gần 5 triệu đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam trong cả nước, những “Chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao độngdân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân…”.

 HSP nên nhớ không có người Việt Nam yêu nước nào, không có loại đảng viên “thức thời nhất” nào từ bỏ Đảng, đánh đổi lý tưởng cao cả của đời mình một cách dễ dàng như những lời trâng tráo, xuyên tạc, phản động như kiểu ông nói đâu!

HSP tự nhận “Tôi không phải là đảng viên Cộng sản”. Tuy nhiên, giá như ông có cái tâm của một công dân trung thực; được tiếp xúc với những đảng viên chân chính; đằng này, số người ông giao du (nào là Trần Độ, Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính, Lê Hiếu Đằng…) đều là những đảng viên tha hóa, cực đoan về chính trị, có tư tưởng phản động, thậm chí có người đã quay lưng phản bội Tổ quốc. Bởi vậy, đã không hiểu biết gì về Đảng lại bị tiêm nhiễm tư tưởng cực đoan, thù địch, chống đối thì làm sao ông không “ngưu tầm ngưu” trở thành một giuộc; trở thành kẻ phản bội đất nước, phản bội dân tộc Việt Nam?!

Trong khi cả dân tộc Việt Nam hy sinh tất cả máu xương, của cải trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, HSP chễm chệ trên ghế giảng đường; nhận bổng lộc của Nhà nước để du học nước ngoài lấy bằng học vị (Phó TS lúc đó). Ông có công cán gì trong cuộc đổ máu của cả dân tộc để có ngày hôm nay? Ông và gia đình ông đang thở khí trời nào? Được hưởng lợi từ đâu, bằng xương máu của ai? Sao ông không mảy may do dự, không biết xấu hổ lại buông lời dối trá, xằng bậy, đả phá chế độ này ???…

Đã gần 80 tuổi rồi, nghĩa là đã “thọt một chân xuống huyệt” sao ông không tận hưởng vãn cảnh yên lành với con cháu, làm những việc phúc đức để con cháu không phải hổ thẹn với đời, lu loa chi những xảo ngôn tráo trở lúc tàn hơi để người đời căm ghét ? Nếu thật có lòng “nặng nước non”, HSP nên im mồm lại !!!

Chính Tâm

“NGƯỜI CHẾT ĐỂ TIẾNG”, THÔI ĐỪNG VÔ TÂM, VÔ NGHĨA NỮA


      Kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ (27/7/1947 – 27/7/2017), trong mỗi người Việt Nam dâng trào nhiều cảm xúc tự hào trước sự chiến đấu và hy sinh to lớn của cả một dân tộc anh hùng! Song, cũng thật buồn, thêm giận trước những việc làm của những kẻ còn lạc lối..!

 

Trước hết, không tự hào làm sao được khi qua những cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm trong thế kỷ 20 và cả trong hòa bình sau 30/4/1975, cả nước ta đã có khoảng 9 triệu người có công với cách mạng. Trong đó, gần 1,2 triệu liệt sỹ và gần 500 ngàn thân nhân liệt sỹ, trên 117.000 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, gần 600.000 thương binh và người hưởng chính sách như thương binh, gần 111.000 người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày…

Với truyền thống và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, các cấp ủy đảng, các cấp chính quyền và toàn dân đã tích cực triển khai và thực hiện có hiệu quả các phong trào chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công bằng những việc làm thiết thực. Từ năm 2007 đến năm 2017, cả nước đã đóng góp xây dựng hơn 3.481 tỷ đồng vào Quỹ “Đền ơn, đáp nghĩa”; xây dựng gần 90.000 nhà tình nghĩa, sửa chữa gần 75.000 nhà tình nghĩa với tổng trị giá gần 12.200 tỷ đồng; tặng gần 159.000 sổ tiết kiệm tình nghĩa trị giá gần 955.000 tỷ đồng… Chính phủ đã cấp cho các địa phương trên 2.450 tỷ đồng để hỗ trợ cho 80.000 hộ gia đình người có công khó khăn về nhà ở; 100% các mẹ Việt Nam anh hùng được các đơn vị nhận phụng dưỡng; 98% xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ… Và kết quả đáng nói là 97% người có công với cách mạng đã có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống người dân nơi cư trú…

Bên cạnh đó, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế trong việc tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ và đã tìm kiếm, quy tập được 939.462 hài cốt liệt sỹ; an táng tại 3.077 Nghĩa trang trong cả nước. Việc xây dựng, tu bổ nghĩa trang liệt sỹ, công trình tưởng niệm liệt sỹ được các cấp, các ngành chú trọng và hiện cả nước có 9.637 công trình ghi công Liệt sỹ…

Trong niềm tự hào chung ấy thì cũng còn những trăn trở, suy nghĩ khi được biết theo kết quả rà soát thực hiện chính sách ưu đãi người có công năm 2014 và 2015, hiện còn 28.500 trường hợp kê khai là người có công chưa được hưởng chính sách ưu đãi của Đảng, Nhà nước; trong số đó có 5.900 hồ sơ đã kê khai đề nghị công nhận là liệt sĩ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh… Đây là những việc cần tích cực giải quyết trong thời gian tới…

Và cũng có nỗi đau nào hơn khi đất nước đã 42 năm hòa bình mà những người mẹ, những người vợ, người con… vẫn còn đau đáu trong lòng một niềm mong ước là sớm tìm được hài cốt của những người thân đã hy sinh trong chiến đấu để được an táng, có mộ phần để gia đình có thể lui tới thăm viếng, thắp những nén nhang tưởng nhớ nhân những ngày lễ, Tết!

Thế nhưng, trong niềm cảm xúc vô cùng to lớn ấy của tất cả những người yêu nước thương nòi thì lại có những kẻ vô tâm, vô nghĩa đang từng ngày, từng giờ tìm cách nói xấu, tìm cách xuyên tạc cả một sự nghiệp cách mạng của Dân tộc Việt Nam vĩ đại…

Họ là ai? Nếu như Hà Sỹ Phu là người chỉ biết đi học trong nước và ngoài nước và chẳng hề tham gia gì thì không nói làm gì; đằng này Bùi Minh Quốc, Mai Thái Lĩnh và một vài người trong cái gọi là “Nhóm thân hữu Đà Lạt” trước đây và cái gọi là “Câu lạc bộ Phan Tây Hồ” hiện nay đã từng tham gia chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ; lại có người thân trong gia đình là liệt sỹ hoặc bản thân họ cũng đóng góp một phần xương máu vào cuộc chiến đấu thần thánh của dân tộc nhưng họ không chịu nhớ, không muốn biết khi tham gia vào các hoạt động chống đối lại cả 90 triệu người Việt Nam trong nước và hàng triệu người Việt Nam ở nước ngoài đang nỗ lực phấn đấu để xây dựng một đất nước còn nhiều nỗi đau sau bao nhiêu năm chiến tranh, mất mát… Họ có biết chăng dù còn nhiều khó khăn trong cuộc sống do mất mát người thân, do thương tật trong chiến tranh nhưng nhiều thương binh, bệnh binh, nhiều gia đình chính sách và nhiều người có công với cách mạng đã và đang nỗ lực vượt qua và phấn đấu trở thành những tấm gương tiêu biểu, những điển hình và những nhân tố mới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội…

Cố tình không nhìn vào sự thật, họ tìm mọi cách để liên lạc với các phóng viên của các báo đài phản động để được gọi là “trả lời phỏng vấn” hoặc tự viết bài đăng trên các blog xấu nhằm loan truyền những điều bịa đặt, những suy nghĩ trái chiều… Ai cũng có thể hiểu được là họ đang “đánh bóng” tên tuổi của mình một cách ngược đời và thật ra họ cũng chỉ là “những con rối” đang được điều khiển bởi các bàn tay nhơ bẩn đâu đó… Cũng có nhiều người thắc mắc là phải chăng họ làm như vậy để được hưởng lợi lộc gì khác không? Câu hỏi có nguyên do bởi vì đã có những kẻ từng làm như vậy mà điển hình là mới đây Nguyễn Văn Hóa sinh năm 1995, trú tại xã Kỳ Khang, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh sau khi bị khởi tố và bắt tạm giam 3 tháng về tội “Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, công dân” theo Điều 258 Bộ luật hình sự thì chính đối tượng này bước đầu đã khai nhận ký hợp đồng với một số đài, trang mạng nước ngoài với mức 1.500 USD/tháng để thu thập thông tin, viết bài chống lại Nhà nước và nhân dân Việt Nam… Thế thì họ cũng “cùng một giuộc” thôi, chứ không ai đi làm những việc không công?  Chắc là sau một bài phỏng vấn chi đó, một bài viết nào đó thì họ lại ngửa tay nhận lấy vài tờ đô la bẩn thỉu mà thế lực phản động “bố thí” cho những kẻ làm thuê, cho những tên tay sai của chúng!

Và cũng từ những việc làm như thế, những bài viết như thế, những câu trả lời phỏng vấn như thế đã làm hoen ố đi, thậm chí còn làm mất đi hình ảnh của những con người đã có một thời trai trẻ tham gia cống hiến sức mình cùng cả một dân tộc bất khuất, kiên trung trong chiến đấu và hy sinh cho sự nghiệp cách mạng. Hình ảnh một vài người trong số họ có thể được xem là thần tượng của thanh niên khi đã từng viết những bài thơ đầy khí phách hào hùng hoặc khi đã từng nói chuyện cho các bạn trẻ vào những ngày sau giải phóng về cách mạng, về lý tưởng, về cách thức vận động lớp trẻ đi vào những phong trào xung kích… Thế mà nay họ đã “phủ định” bản thân theo hướng tiêu cực bằng chính những việc làm hôm nay để bôi bẩn, thậm chí còn phá nát và làm sụp đổ những hình tượng đáng quý đã có…

Ông bà ta có câu “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”. Không biết những con người lạc lối ấy có bao giờ suy nghĩ rằng đến khi mình qua đời thì những tai tiếng do chính họ tạo nên sẽ được chôn chặt xuống nấm mồ với họ hay là sẽ đi theo con cháu họ đời đời kiếp kiếp hay không? Đó chính là câu hỏi đang chờ chính họ suy ngẫm và trả lời!

                                                                                                            Ngàn Thông

Lại một kiểu “Rắc cát vào những cỗ máy lớn”


Gần đây, trên blog Danlambao phát tán bài trả lời của Mai Thái Lĩnh với phóng viên Trần Quang Thành về mục đích việc thành lập“Câu lạc bộ Phan Tây Hồ”. Điều mà các vị này tâm đắc thực chất là “cái cớ” để họ tuyên truyền quan điểm đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thắng lợi lịch sử có tính quốc tế của nhân dân Việt Nam trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược đã được loài người tiến bộ, các tổ chức lớn như Liên hợp quốc, UNESCO xác nhận, tôn vinh, ca ngợi…

 

Mọi người điều biết, đảng là một tổ chức chính trị của những người tự nguyện cùng chung một chí hướng đấu tranh cho lợi ích của một giai cấp hoặc tầng lớp nhất định. Trong xã hội có nhiều giai cấp và tầng lớp, có thể có một đảng hoặc nhiều đảng; trong đó có đảng cầm quyền, có đảng không cầm quyền. Tùy theo điều kiện và tương quan lực lượng cụ thể ở mỗi nước mỗi lúc có thể do một đảng hoặc một số đảng liên minh với nhau cầm quyền. Trong quá trình cầm quyền của Đảng Cộng sản, việc tồn tại một đảng hay nhiều đảng ở mỗi nước là do những điều kiện lịch sử cụ thể quy định, không có khuôn mẫu chung cho tất cả các nước.

Ở Việt Nam từ giữa những năm 1947 đến năm 1988, ngoài Đảng Cộng sản lãnh đạo chính quyền còn có hai đảng: Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng xã hội Việt Nam tham gia chính quyền, nhưng hai đảng trên thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ tháng 11 năm 1988 đến nay, trên chính trường Việt Nam chỉ còn lại duy nhất một đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam. Ở Cuba, Lào cũng chỉ có một đảng cầm quyền. Ở Trung Quốc, ngoài Đảng Cộng sản là đảng cầm quyền, còn tám đảng phái dân chủ khác, nhưng vẫn chấp nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc,v.v… Vấn đề chủ yếu đối với một Đảng Cộng sản cầm quyền là cầm quyền một cách khoa học, dân chủ và theo pháp luật trên cơ sở giữ vững sự trong sạch, vững mạnh của các tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên và quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Ở Việt Nam, từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam thực tế là Đảng cầm quyền. Điều này không phải tự nhiên mà có; đây là thành quả của bao năm đấu tranh cách mạng của toàn Đảng, toàn dân Việt Nam, trong đó có sự đóng góp của một vài người trong nhóm, câu lạc bộ của các ông đấy. Được thành lập 1930, phải 15 năm sau, trải qua bao mất mát, hy sinh, thử thách cam go, hàng loạt cán bộ, đảng viên, trong đó có những nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng đã hy sinh, Đảng Cộng sản Việt Nam mới giành được chính quyền. Rồi tiếp sau đó, ròng rã suốt 30 năm kháng chiến đầy gian khổ và kiên cường, Việt Nam mới giải phóng được toàn bộ đất nước, giang sơn thu về một mối và Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền trong cả nước thống nhất. Những thành quả vĩ đại mà nhân dân Việt Nam đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng, chứng tỏ ở Việt Nam chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có khả năng lãnh đạo nhân dân xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Vậy mà trong trả lời phỏng vấn, ông ta vô cảm và trâng tráo nói: “Nếu soi vào tình hình thực tế, nhiều người khoe là ta đánh Pháp, đánh Mỹ. Đánh Pháp, đánh Mỹ để làm gì? Đánh Pháp đánh Mỹ ta lại dựa vào viện trợ của nước khác (của Liên Xô, của Trung Quốc) và bây giờ, mình chỉ là con ngựa, chỉ thay người cỡi”. Đây không phải là “phát kiến” riêng của ông ta đâu, chẳng qua là “nhai lại” của những kẻ “trở cờ” mà thôi. Đây là ý kiến của những kẻ cố tình đi ngược dòng lịch sử và ra sức phủ nhận ý nghĩa, giá trị to lớn của các cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân ta. Đây cũng là thể hiện của một tâm thế hằn học, ích kỷ, xuyên tạc gây kích động hận thù dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế trong sáng.

Với đạo lý truyền thống của người Việt “Chịu ơn không bao giờ quên, làm ơn không bao giờ kể công”, nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ sự giúp đỡ to lớn và hiệu quả của nhân dân các nước tiến bộ trên thế giới, trong đó có Liên Xô (trước đây) và nhân dân Trung Quốc đối với sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc và thống nhất đất nước cũng như trong công cuộc xây dựng và đổi mới của Việt Nam ngày nay. Mọi người Việt Nam yêu nước có quyền tự hào với thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, trong đó có việc đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ. Vậy mà ông ta lại mỉa mai rằng “nhiều người khoe ta đánh Pháp, đánh Mỹ”. Chiến thắng của chúng ta là chiến thắng của chính nghĩa, của ý chí và nghị lực Việt Nam, của tinh thần “tự lực cánh sinh”, của sức mạnh bên trong-sức mạnh tinh thần Đại đoàn kết dân tộc. Chính kẻ chiến bại là đế quốc Mỹ phải thừa nhận: “Chúng tôi thua Việt Nam vì không hiểu được nền văn hóa Việt Nam”.

Không thể chấp nhận một câu nói của một người ít nhiều có học thức rằng: “Bây giờ người cưỡi trên lưng dân Việt Nam là Trung Hoa cộng sản”. Đó là một kiểu ăn nói “hồ đồ” suy diễn vô căn cứ, thiếu lòng tự tôn dân tộc. Mọi người đều biết, quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống Việt Nam – Trung Quốc được các thế hệ lãnh đạo tiền bối gây dựng và dày công vun đắp là tài sản quý báu của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần được kế thừa và phát huy. Vẫn biết rằng, gần 70 năm qua kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ hai nước có lúc thăng, lúc trầm nhưng hữu nghị và hợp tác là dòng chính. Hơn 10 năm qua, Trung Quốc luôn là bạn hàng thương mại lớn nhất của Việt Nam, còn Việt Nam đã trở thành bạn hàng lớn nhất của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Tình hình biên giới trên bộ và vịnh Bắc Bộ cơ bản ổn định. Tuy nhiên, diễn biến trên Biển Đông vẫn còn phức tạp, nhất là việc Trung Quốc tôn tạo, bồi đắp, xây dựng nhân tạo ở Trường Sa khiến dư luận Việt Nam và cả cộng đồng quốc tế lo ngại. Với cách nhìn nhận đúng đắn và khách quan, chúng ta mong muốn thúc đẩy quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống và quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc phát triển lành mạnh và bền vững vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Với tinh thần độc lập, tự chủ, chúng ta phản đối những nhận thức và phát ngôn lệch lạc gây chia rẽ và kích động mâu thuẫn giữa hai Đảng, hai nhà nước và nhân dân hai nước. Ngay cả Bộ trưởng phụ trách các vấn đề trẻ em và bình đẳng của Na uy S.Home (H.Hône) cũng khẳng định: “phát ngôn thù hận chính là mối đe dọa đối với quyền tự do ngôn luận”. Quốc hội Nhật Bản cũng vừa thông qua luật ngăn chặn phát ngôn thù hận (bao gồm sự bôi nhọ hoặc đe dọa người khác trên mạng xã hội). Việt Nam đã có Nghị định 72/2013/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ nhằm có biện pháp ngăn chặn xử lý kịp thời nạn phát ngôn gây thù hận.

Cũng trong bài trả lời phỏng vấn, một trong những điểm mà ông ta tâm đắc và nhấn mạnh là chủ trương giành độc lập của Cụ Phan Chu Trinh muốn đòi một chế độ tự trị trước rồi mới tiến tới giành độc lập mà giành độc lập lại bằng phương pháp bất bạo động. Đây là vấn đề đáng lẽ không cần bàn cãi nữa vì lịch sử đã sang trang mới, đất nước giành được độc lập rồi, giành độc lập bằng con đường nào đã rõ rồi! Con đường của Cụ Phan Bội Châu dựa vào Nhật đánh Pháp chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Còn Cụ Phan Chu Trinh lại định dựa vào Pháp để canh tân đất nước khác nào “xin giặc rủ lòng thương”. Vì thế, chủ trương giành độc lập của các Cụ không đạt kết quả như mong muốn, thậm chí phong trào yêu nước của các Cụ bị dập tắt. Vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sĩ phu yêu nước và của các nhà cách mạng có xu hướng tư sản đương thời , Nguyễn Ái Quốc đã kịp thời đáp ứng nhu cầu bức thiết của lịch sử. Theo Nguyễn Ái Quốc: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”!

Việc lựa chọn phương pháp cách mạng hòa bình hay bạo lực không phải do ý chí chủ quan mà phụ thuộc vào tình hình cụ thể. Nên nhớ rằng, bạo lực là “bà đỡ” cho một xã hội cũ đang thai nghén một xã hội mới. Thử hỏi, nếu Việt Nam không có trận Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu” thì làm sao thắng Pháp? Nếu không có Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử thì làm sao “Mỹ cút, Ngụy nhào”, để có hòa bình, độc lập như ngày nay? Rõ ràng, muốn tự giải phóng khỏi áp bức, bóc lột không thể không dùng bạo lực cách mạng để đập tan bạo lực phản cách mạng. Đó là quy luật phổ biến của cách mạng nói chung và cách mạng vô sản nói riêng. Trên thực tế, có thể có nơi dùng phương pháp hòa bình (bất bạo động), giành được thắng lợi. Nhưng phương pháp hòa bình chỉ có thể đạt được trong những điều kiện cụ thể nhất định và với sự hậu thuẫn của bạo lực cách mạng của quần chúng cách mạng. Cần có một cách nhìn đúng đắn và toàn diện hơn, đó là không nên đồng nhất bạo lực cách mạng với một trong những hình thức của nó là đấu tranh vũ trang mà phải quan niệm về bạo lực cách mạng gồm cả khởi nghĩa vũ trang và bãi công chính trị có tính chất quần chúng. Việc sử dụng bạo lực hay không, sử dụng nhiều hay ít và bằng cách nào, điều đó tùy thuộc hoàn toàn vào điều kiện cụ thể, sự tương quan lực lượng, tính chất của cuộc chiến tranh chính nghĩa hay phi nghĩa.

Thực tiễn hào hùng, bi tráng của dân tộc đã chứng tỏ rằng, bước vào thời đại mới, chỉ có tinh thần yêu nước không thì không thể đánh bại được các thế lực đế quốc xâm lược. Vận mệnh của đất nước đòi hỏi phải có một lực lượng lãnh đạo cách mạng mới, đề ra được đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử và những yêu cầu của thời đại mới, đủ sức quy tụ được cả dân tộc vào cuộc đấu tranh chống đế quốc thực dân, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững thì mới giành được thắng lợi.

Đối với Việt Nam, không còn nghi ngờ gì khi nhận định: Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã lãnh đạo nhân dân nước này tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc. Vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng cao trên trường quốc tế. Đó là một thực tế lịch sử, không ai có quyền đảo ngược.

Mọi quan điểm muốn thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, đòi thực hiện “tam quyền phân lập” trong tổ chức và thực hiện quyền lực Nhà nước ở Việt Nam là hoàn toàn sai trái, nó xa lạ với thực tiễn Việt Nam, đi ngược với ý chí và nguyện vọng của tất cả những người Việt Nam yêu nước chân chính. Việt Nam đang là một nước độc lập, có chủ quyền, chính trị ổn định. Vậy mà vẫn có những thế lực thù địch, những kẻ “cơ hội chính trị” mưu toan phá vỡ sự bình yên của nhân dân, chẳng khác gì “sự rắc cát vào những cỗ máy lớn”.

 

Hà Phúc Lâm

Nhận diện những kẻ đội lốt tu hành


Bên cạnh những nhà tu hành chân chính luôn chú tâm thực hiện phương châm “Sống tốt đời, đẹp đạo”, những năm gần đây xuất hiện một số người đội lốt tu hành để thực hiện những điều mà cả giáo lý của các tôn giáo và đạo lý của Dân tộc Việt Nam không cho phép như Nguyễn Văn Lý, Thích Quảng Độ… Mới đây lại xuất hiện một số “nhân vật” cũng có những hành động tương tự làm cho người dân, ngay cả giáo dân phải tự hỏi “Họ có phải là những nhà tu hành chân chính không?”.

Tại Điều 2 Pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo ngày 18/6/2004 của nước ta nói rõ: “Chức sắc, nhà tu hành và công dân có tín ngưỡng, tôn giáo được hưởng mọi quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân. Chức sắc, nhà tu hành có trách nhiệm thường xuyên giáo dục cho tín đồ lòng yêu nước, thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân và ý thức chấp hành pháp luật.”. Khoản 2 Điều 8 Pháp lệnh còn nhấn mạnh: “Không được lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phá hoại hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước; kích động bạo lực hoặc tuyên truyền chiến tranh, tuyên truyền trái với pháp luật, chính sách của Nhà nước; chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, chia rẽ tôn giáo; gây rối trật tự công cộng, xâm hại đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; hoạt động mê tín dị đoan và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác”. Tại Điều 5 Luật tín ngưỡng tôn giáo năm 2016 (sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) cũng quy định về “Các hành vi bị nghiêm cấm”; trong đó có “Hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo: Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; Xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân…”.

Mặc dù Nhà nước ta rất tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo thế nhưng một số người đã lợi dụng dân chủ để có những việc làm trái với pháp luật hiện hành và giáo lý. Trong bài viết này, xin điểm một số chân dung “đen” sau:

Nhân vật thứ nhất là Nguyễn Đình Thục – Linh mục quản xứ Song Ngọc xã Quỳnh Ngọc, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Sáng ngày 14/2/2017, nhiều giáo dân tụ tập tại nhà thờ giáo xứ Song Ngọc đã nhẹ dạ, cả tin nghe theo lời rao giảng của Nguyễn Đình Thục mang theo cờ trống, băng rôn, loa, máy ảnh… kéo về phía Quốc lộ 1A gọi là để khiếu kiện Công ty Formosa đã gây ra sự cố môi trường tại biển Hà Tĩnh trong năm 2016. Trên đường đi, do thời tiết xấu và khi được các lực lượng chức năng tuyên truyền vận động nhiều người dân đã có ý định quay về. Dù được các cán bộ của tỉnh trực tiếp đến hiện trường giải thích và đồng ý tiếp nhận đơn kiện của bà con nhưng Nguyễn Đình Thục đã dùng vai trò linh mục gây sức ép để buộc giáo dân tiếp tục gây rối. Mang danh nghĩa đi khởi kiện vì quyền lợi người dân nhưng trong đoàn giáo dân đi khởi kiện lại có rất nhiều đối tượng trong tổ chức phản động Việt Tân như: Chu Mạnh Sơn, Nguyễn Thị Phương, Lê Văn Nhàn, Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Văn Dũng, Trịnh Tuấn Anh, Bạch Hồng Quyền và đối tượng chống đối cộm cán như Hoàng Đức Bình: “Phó Chủ tịch Phong trào Lao Động Việt” – một tổ chức phản động. Nguyễn Đình Thục và các đối tượng cực đoan đứng sau kích động giáo dân quá khích gây rối và đỉnh điểm của sự kích động là vào  17h30 phút, một số phần tử cực đoan, bị xúi giục đã dùng gạch, đá tấn công các lực lượng đang tham gia giữ trật tự. Hậu quả làm nhiều chiến sĩ bị thương phải đưa đi cấp cứu; một số phương tiện ô tô của lực lượng chức năng bị vỡ kính và hư hại nghiêm trọng…

Nguyễn Đình Thục với danh nghĩa là linh mục quản xứ Song Ngọc, nhưng lại có các mối quan hệ rất chặt chẽ với các đối tượng trong các tổ chức phản động, chống đối Nhà nước. Chính Nguyễn Đình Thục từng là kẻ đứng sau vụ việc tổ chức bắt giữ, đánh đập người trái pháp luật xảy ra tại thôn Trung Hương, xã Yên Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An năm vào 2012, khi đang là Phó chánh giáo xứ Quan Lãng, xã Tường Sơn, huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An. Ngày 01/7/2012, mặc dù chưa có sự đồng ý của chính quyền cùng sự phản đối của nhân dân địa phương, Nguyễn Đình Thục vẫn kêu gọi khoảng 700  người dân từ nơi khác kéo về thôn Trung Hương, xã Yên Khê để hành lễ trái pháp luật. Trong vụ việc này, 43 người dân xã Yên Khê và tổ công tác huyện, xã đã bị đẩy vào nơi mà các linh mục Giáo xứ Quan Lãng gọi là nhà nguyện và bị giam giữ làm con tin, đánh đập trong suốt 12 giờ…Trước sự bất bình, phẫn nộ của người dân địa phương, khi đó chính quyền tỉnh Nghệ An đã phải trực tiếp đến trấn an, triển khai phương án bảo vệ người dân địa phương và bà con giáo dân ra về an toàn…Trước khi xảy ra vụ việc ngày 14/02/2017, từ ngày 05 đến 06/12/2016, Nguyễn Đình Thục đã sang Đài Loan để cùng Nguyễn Văn Hùng – một linh mục người Úc gốc Việt, đang sống tại Đài Loan, đại diện một tổ chức phản động ngoại vi của Việt Tân để bàn bạc và xin các dân biểu Đài Loan can thiệp đến vụ gây ô nhiễm môi trường của Formosa. Với sự ngoan cố và quyết tâm tạo ra sự kiện ngày 14/2/2017, Nguyễn Đình Thục cùng đồng bọn là các đối tượng quá khích liên tục cập nhật thông tin vụ việc trên các trang mạng xã hội cực đoan nhằm ghi công, ghi điểm với các tổ chức, cá nhân phản động và các thế lực thù địch bên ngoài. Nguyễn Đình Thục đã từng rao giảng: “Chúng ta tiếp tục cầu nguyện cho anh em và cho nhau. Cầu nguyện cho chế độ cộng sản mau mất đi”…

     Nhân vật thứ hai là Đặng Hữu Nam – linh mục quản xứ Giáo xứ Phú Yên, xã An Hòa, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Trong khi nhân dân cả nước hân hoan kỷ niệm 42 năm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước thì Đặng Hữu Nam lại tập hợp giáo dân, rao giảng những lời lẽ phủ nhận thành quả cách mạng của cả dân tộc Việt Nam; phủ nhận những đóng góp, hy sinh xương máu của nhân dân ta khi buông ra những lời lẽ sai sự thật về Chiến thắng lịch sử 30/4, khiến bất kỳ ai nghe qua cũng không khỏi bức xúc, phẫn nộ như: “Hôm nay cũng là ngày 30/4, ngày mà đất nước Việt Nam chúng ta rơi vào thảm cảnh đau khổ cả miền Bắc lẫn miền Nam. Chúng ta đã thấy 90 triệu người từ ngày 30 tháng Tư đã mất tất cả, mất quyền của con người; ngày mà dân tộc Việt Nam mất đi tự do; ngày mà người dân Việt Nam không có quyền làm người; ngày đã làm đất nước tan hoang; ngày đã đưa đất nước trở thành lạc hậu, nghèo đói; ngày Việt Nam mất đi cơ hội phát triển; ngày đã tạo nên những bất công trên mọi miền đất nước; ngày đánh dấu dân tộc Việt Nam bước vào vòng nô lệ cho ngoại bang; 30/4 cũng là ngày đen tối nhất của dân tộc này…”. Đặng Hữu Nam còn rêu rao: “Ngày 30/4, nhớ lại cố Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã khẳng định: đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy xem những gì cộng sản làm.”, trắng trợn xuyên tạc“Tinh thần Cách mạng tháng Tám là tinh thần từ cướp mà ra”. Vị linh mục này ngoài một kẻ phản động, còn là một kẻ cực kỳ vô văn hóa đã lộng ngôn rằng: “Đi theo Đảng tức là đang đi theo đĩ”…

Từ ngày 10/3/2014 được phân công về phụ trách giáo xứ Phú Yên, Đặng Hữu Nam luôn đi ngược lại với tinh thần “sống tốt đời, đẹp đạo” của người Công giáo. Ngay trong lời cầu nguyện của Đặng Hữu Nam luôn bộc lộ bản chất rời xa đạo lý của giáo lý Ki tô, chống đối chính quyền, lừa phỉnh nhân dân. Là một linh mục lẽ ra phải rao giảng lời hay ý đẹp theo thánh kinh, kính chúa, yêu nước ngược lại, linh mục Nam đi rao giảng cho con chiên theo hướng tà giáo, phản đạo, phản quốc… Nhiều người dân ở đây cho rằng trước đây giáo dân giáo xứ sống bình yên, nhưng từ ngày linh mục Nam về làm Quản xứ thường xuyên xảy ra gây gổ, mất trật tự, không những xứ đó mà còn lôi cuốn sang cả Quỳnh Ngọc rồi vào Diễn Châu và Hà Tĩnh… Ngày 31/12/2015, trên đường đi, Đặng Hữu Nam có va chạm với anh Hồ Vĩnh Lợi (trú tại xóm Toàn Mỹ, An Hòa), hai bên xảy ra xô xát, đánh nhau. Sau đó về nhà thờ, Đặng Hữu Nam lu loa trên loa phóng thanh của nhà thờ nói mình bị đánh và cho rằng chính quyền địa phương chỉ đạo, nên đã xúi giục gần 1.000 giáo dân kéo đến trụ sở UBND xã An Hòa gây áp lực. Ngày 14/8/2016, một số người dân thuộc thôn Tân An, xã An Hòa tự ý tháo dỡ 5,5m phía trước và 5,5m phía sau bờ tường bao Nhà văn hóa thôn Tân An, xã An Hòa. Đến ngày 15/8/2016, khi tổ công tác huyện và UBND xã An Hòa tổ chức kiểm tra hiện trường để phục vụ cho công tác điều tra, xử lý vụ việc theo quy định của pháp luật, thì Đặng Hữu Nam cho rung chuông nhà thờ Giáo xứ Phú Yên và ngay lập tức khoảng 20 nam thanh niên kéo ra ngăn cản, không cho tổ công tác thi hành nhiệm vụ, buộc các thành viên tổ công tác phải rút khỏi hiện trường; một số đối tượng quá khích đã đuổi theo hành hung các công chức địa chính – xây dựng UBND xã An Hòa phải nằm viện. Tiếp đó, ngày 12/11/2016, Đặng Hữu Nam chạy xe ôtô trên đường đã quát mắng rồi đánh em Nguyễn Văn Lực, học sinh lớp 9D, Trường THCS xã An Hòa, vì cho rằng em Lực không chịu nhường đường. Lúc đó ông Hồ Vĩnh Lai (trú tại xóm Quyết Thắng, xã An Hòa) đi qua thấy sự việc đã đến can ngăn. Khi bị can ngăn, Đặng Hữu Nam đã kích động giáo dân kéo đến đánh ông Lai bị thương nặng, phải đưa vào viện cấp cứu. Đặc biệt từ giữa năm 2016 đến nay, lợi dụng sự cố môi trường biển tại các tỉnh miền Trung, Đặng Hữu Nam câu kết với một số đối tượng công khai rao giảng và có những hành động chống phá chính quyền quyết liệt…

Với những hành động như vậy thì hai nhân vật nói trên có phải là nhà tu hành chân chính không? Những người Kitô giáo khi đọc lại một số điều trong sắc lệnh Về chức vụ và đời sống các linh mục thì thấy: “Các linh mục, vì là cộng sự viên của các Giám mục, nên trước tiên có nhiệm vụ loan báo Tin mừng cho mọi người”. Người Công giáo không ai không biết loan báo tin mừng là gì ! Đó chính là sự cứu rỗi của Ngôi hai Thiên Chúa, ngài đã chịu đóng đinh trên thập giá vì tội nhân loại, tin mừng đó phải từ miệng của linh mục loan đi, đó chính là bác ái yêu thương; đó chính là sự cảm thông sâu sắc với đồng loại, đó chính là lòng vị tha, khiêm nhường, cung kính. Không thể kể ra hết ý nguyện của Thiên Chúa khi ban phát tình yêu của người xuống cho nhân loại. Thông qua vai trò của linh mục Ngài muốn: “Nước cha trị đến, dưới đất cũng như trên trời”. Hơn nữa, Chương 3 Đời sống linh mục có đoạn “Các Linh mục sau khi được Chúa Thánh Thần thánh hiến bởi việc xức dầu và được Chúa Kitô sai đi, các ngài hãm dẹp những việc của xác thịt nơi chính bản thân và hoàn toàn tận tâm phục vụ nhân loại; nhờ thế các ngài có thể tiến tới trên đường thánh thiện mà các ngài đã được tô điểm trong Chúa Kitô, để thành con người hoàn toàn”…

Rõ ràng, những hành vi của Nguyễn Đình ThụcĐặng Hữu Nam với danh nghĩa là linh mục có đúng theo giáo luật và pháp luật hay không? Thực chất hoàn toàn sai trái, sai với giáo luật, trái với các quy định của Nhà nước. Nguyễn Đình Thục và Đặng Hữu Nam là ai? Chắc chắn mọi người, nhất là đối với giáo dân không phải là những nhà tu hành chân chính !

Ngàn Thông

KHOA HỌC VÀ PHẢN KHOA HỌC


Gần đây, trên một số kênh thông tin (mạng) có những bài viết với những ý kiến trái ngược xung quanh việc ra đời của Viện Phan Châu Trinh cũng như sự xuất hiện của nhóm “nhân sĩ Đà Lạt” với việc thành lập “câu lạc bộ Phan Tây Hồ” muốn lan tỏa phương thức hoạt động dựa vào uy tín của nhà yêu nước đầu thế kỷ XX Phan Châu Trinh để đạt mục đích riêng.

Sẽ là sai lầm nếu tiếp tục sa đà vào việc xem xét lịch sử liên quan đến những con người có tên tuổi trong quá trình dựng nước, giữ nước. Không ai nghi ngờ và cũng không ai xuyên tạc, xúc phạm cụ Phan Châu Trinh, một nhà yêu nước đã dùng những cải cách văn hóa, mở mang dân trí, nâng cao dân khí, phát triển kinh tế làm cho dân giàu, nước mạnh, buộc thực dân Pháp trao trả độc lập cho nước Việt Nam.

Tuy nhiên, do những hạn chế về lịch sử, về giai cấp, nên các sĩ phu cấp tiến lãnh đạo phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX trong đó có Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh không thể tìm được một phương hướng giải quyết chính xác cho cuộc đấu tranh giải phóng của dân tộc, nên chỉ sau một thời kỳ phát triển đã bị kẻ thù dập tắt. Theo tư liệu lịch sử giai đoạn trước năm 1911- giai đoạn hình thành nhận thức có tính phê phán các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX trên lập trường phong kiến hoặc theo khuynh hướng tư sản, cho thấy:

Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) “khâm phục các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu, nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào. Vì:

Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương. Anh nhận điều đó là sai lầm chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương.

Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”.

Cụ Hoàng Hoa Thám thực tế hơn, vì trực tiếp đấu tranh chống Pháp. Nhưng theo lời người ta kể thì cụ còn nặng cốt cách phong kiến.

Anh thấy rõ và quyết định con đường nên đi”.

Mọi người đều biết, một sự kiện đánh dấu bước ngoặt quyết định trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản; mở đường giải quyết đúng đắn về đường lối giải phóng dân tộc của Việt Nam. Bằng thiên tài trí tuệ và hoạt động cách mạng của mình, Nguyễn Ái Quốc đã kịp thời đáp ứng nhu cầu bức thiết của lịch sử. Vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sĩ phu và của các nhà cách mạng có xu hướng tư sản đương thời, Nguyễn Ái Quốc đã đến với học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin và lựa chọn con đường cách mạng vô sản… Người nói: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do; nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ vươn lên làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước Việt Nam từ nghèo nàn, lạc hậu đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trở thành một nước đang phát triển có thu nhập trung bình, có vị thế, uy tín ngày càng cao trên trường quốc tế. Đó là một thực tế lịch sử hiện hữu không ai có quyền phủ nhận những thành quả đó.

Trong bài viết “Viện Phan Châu Trinh Nguyên Ngọc tôi tin” , blog Văn Việt, tác giả viết: “Mọi người đều biết, trong chế độ chuyên chính vô sản độc tài toàn trị không có khoa học xã hội đích thực, chỉ có cái gọi là khoa học xã hội phục vụ chính trị”. Nói như vậy là chủ quan, võ đoán, phủ định sạch trơn những thành quả đạt được trên lĩnh vực khoa học mà đất nước đã đạt được kể từ khi giành được chính quyền. Phải thấy rằng từ năm 1986 đến nay, trên lĩnh vực khoa học nói chung và khoa học xã hội nhân văn nói riêng đã có những đóng góp trong quá trình đổi mới, đặc biệt là việc bổ sung phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Cách đây không lâu, một luận điểm mới được ra đời: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đó là nền nếp hàng ngày của xã hội mới, thể hiện chế độ nhân dân lao động tự quản lý Nhà nước của mình. Dẫu biết rằng đây đó, có lúc, có nơi chưa làm được, thậm chí vi phạm quyền làm chủ của người dân. Như mọi người đều biết: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ của đại đa số nhân dân, gắn bó với quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, được pháp luật bảo đảm, dưới sự lãnh đạo của Đảng; là một hình thức thể hiện quyền tự do, bình đẳng của công dân, xác định nhân dân là chủ thể của quyền lực. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Nhưng quốc gia nào cũng vậy, dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm. Nhà giáo dục nổi tiếng của Liên Xô trước đây là Makarenko từng nói: “Kỷ luật, ai có tính kỷ luật thì người đó sẽ thắng. Kỷ luật là tự do”. Anh muốn tự do, anh phải tôn trọng pháp luật.

Đúng là trong điều kiện toàn cầu hóa mà không học là không được. Cụ Phan Châu Trinh tặng vật quý báu cho đồng bào ta, đó là “CHI BẰNG HỌC” ở thời điểm đó quả là giá trị của một trong những người nhìn xa, trông rộng. Ngay từ năm 1946, khi trả lời các nhà báo nước ngoài, Hồ Chí Minh cũng đã nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Người cũng từng khuyên cán bộ: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ”. Phải chăng tư tưởng lớn của các cụ đã gặp nhau. Trong bức thư đề ngày 18-2-1922 của cụ Phan Chu Trinh gửi từ Mác-Xây cho Nguyễn Ái Quốc ở Pari, cụ Phan chiêm nghiệm: “Tôi tự ví thân tôi như con ngựa già hết nước kiệu, phi nước tế”, “cây già thì gió dễ lay, người già thì trí dễ lẫn”, “cảnh tôi như hoa sắp tàn”. Cuối thư, cụ chân thành, thoải mái gửi gắm niềm tin đến Nguyễn Ái Quốc “như cây đương lộc, nghị lực có thừa, dày công học hành, lý thuyết tinh thông”. Và cụ tin “không bao lâu nữa cái chủ nghĩa Anh (NAQ) tôn thờ (chủ nghĩa Mác-Lênin) sẽ thâm căn cố đế (sâu rễ bền gốc) trong đám dân tình chí sĩ nước ta”. Quả là một lời tiên tri đắt giá như một chân lý.

Trong tư tưởng của Hồ Chí Minh, việc nâng cao dân trí có liên quan đến vận mệnh quốc gia, Người quan niệm dốt nát cũng là kẻ địch (giặc đói, giặc dốt, giặc ngoài xâm). Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Vì vậy, nhiệm vụ vừa mang tính cấp bách vừa mang tính thường xuyên cơ bản lâu dài là: xóa mù chữ, nâng cao trình độ học vấn – cơ sở văn hóa của tinh thần.

Qua thư gửi học sinh nhân ngày khai trường tháng 9/1945, Hồ Chí Minh gửi gắm vào thế hệ trẻ – chủ nhân tương lai của đất nước: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

Tổng kết kinh nghiệm lịch sử của nước ta và của các nước trên thế giới, từ Đại hội VIII của Đảng đến nay, Đảng tiếp tục khẳng định giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu. Đối với “Khoa học xã hội và nhân văn đặt trọng tâm vào tổng kết thực tiễn, đi sâu nghiên cứu những vấn đề lớn của đất nước, khu vực và toàn cầu, giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, cung cấp luận cứ cho việc hoạch định đường lối chiến lược, chính sách phát triển kinh tế – xã hội, phát huy nhân tố con người và văn hóa Việt Nam”. Đó, “Khoa học phục vụ chính trị” là như thế không có gì khác đâu các vị ạ!. Trong khoa học xã hội và nhân văn, nếu không bám sát thực tiễn thì kết quả nghiên cứu sẽ rơi vào kinh viện, xa rời cuộc sống. Theo Lênin “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”. Trong quá trình hình thành, phát triển và chỉ đạo sự nghiệp đổi mới, Đảng hết sức quan tâm, thực hiện tổng kết thực tiễn phong trào quần chúng. Từ những tổng kết đó mà hình thành những quan điểm, đường lối để đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới đạt nhiều thành tựu. Đương nhiên có tiếp thu, chọn lọc của nước ngoài, nhưng tổng kết thực tiễn là quan trọng nhất.

Để có những thành tựu khoa học, điều quan trọng là phải biết coi trọng nhân tài, vì làm khoa học là phải có kiến thức, trí tuệ. Bằng đức độ và uy tín, Hồ Chí Minh trân trọng đón mời, sẵn sàng thể tất những mặt thứ yếu và trao thực chức, thực quyền cho người có tài năng, kể cả những người từng có lúc sa chân lỡ bước nhưng đã rời bỏ mê lầm. Người đã quy tụ được quanh mình những trí thức thuộc cỡ lớn nhất của dân tộc, trong đó có những bậc thầy đã dứt bỏ địa vị và cuộc sống cao sang ở nước ngoài theo Hồ Chí Minh về nước tham gia kháng chiến, kiến quốc.

Người viết bài này không có ý chỉ nói những mặt được để phê phán tác giả (như đã nêu) mà cũng phải thấy rằng: Nhiều năm trước, Đảng và Nhà nước không quan tâm đúng mức đến khoa học xã hội, để khoa học xã hội ở tình trạng “chậm trễ, lạc hậu” như Đại hội IX của Đảng có đề cập. Đành rằng, những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước có quan tâm hơn như xây dựng hệ thống chương trình, đề tài cấp Nhà nước; đầu tư kinh phí; đào tạo đội ngũ cán bộ vv… Tuy nhiên, sự quan tâm đó chưa đủ tầm để khắc phục nhanh chóng tình trạng lạc hậu. Nghị quyết Trung ương hai (khóa VIII) nhận định: “Tình trạng chậm trễ trong một số lĩnh vực lý luận và khoa học xã hội chưa được khắc phục”. Nhận định này vẫn mang tính thời sự. Chưa kể đến đội ngũ cán bộ khoa học xã hội chưa thực sự yên tâm trong quá trình nghiên cứu, tìm tòi cái mới. Có người mặc cảm với sự nhận xét, quy chụp về quan điểm, lập trường, trong quá trình tìm tòi cái mới. Đội ngũ cán bộ khoa học xã hội nhìn chung còn yếu, đặc biệt thiếu những chuyên gia giỏi, chuyên gia đầu ngành làm hạn chế đến sự phát triển của khoa học xã hội. Đây là vấn đề Đảng và Nhà nước đang tiếp tục chỉ đạo khắc phục.

Có lẽ xuyên suốt trong bài viết của tác giả như đã nêu trên, lặp đi lặp lại sự chì chiết về “khoa học và làm khoa học”. Thực ra, đã là khoa học thì phải chính xác. Nếu nói đúng, làm đúng thì đó là khoa học. Nếu nói sai hoặc lợi dụng uy tín của ai đó để làm sai, bóp méo sự thật thì đó là phản khoa học. Hy vọng rằng, sự ra đời và hoạt động của Viện Phan Châu Trinh sẽ gặp những điều tốt lành. Và cũng mong rằng các “cổ động viên” của Viện bình tĩnh hơn, “NỔ” ít thôi, cái gì thái quá cũng là phản khoa học.

Hà Phúc Lâm

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân – Điều Hà Sỹ Phu không muốn biết!


Cuối tháng 4 năm 2017, trên một số trang mạng xấu đã đưa bài viết của Hà Sĩ Phu với tựa đề “Đất đai và bản chất ăn cướp của một điều luật” nói về Điều 53 của Hiến pháp sửa đổi năm 2013 trong đó ông ta đã cố lập luận theo sự hiểu biết của chính mình về vấn đề này… Điều đáng nói nhất là với trình độ của một người từng đi nghiên cứu sinh khoa học ở nước ngoài thì lẽ ra phải hiểu nhiều, biết nhiều nhưng đáng tiếc lại có điều mà Hà Sĩ Phu không muốn biết !

Là người Việt Nam, ai mà không biết nước ta vốn là một nước nông nghiệp và nông dân chiếm đại bộ phận trong dân cư cho nên đất đai có vị trí hết sức quan trọng trong đời sống xã hội. Do vậy, mỗi khi ban hành, sửa đổi, bổ sung đạo luật cơ bản nhất là Hiến pháp và luật chuyên ngành là Luật đất đai mà trước đó phải tổ chức lấy ý kiến góp ý vào các dự thảo thì việc quy định chế độ sở hữu đất đai luôn thu hút được sự chú ý đặc biệt của mọi người dân. Mặc dù có ý kiến cho rằng phải đa dạng hình thức sở hữu đất đai trong đó có sở hữu tư nhân về đất đai, nhưng đây chỉ là ý kiến của một số ít người trong khi đại đa số nhân dân tán thành chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, không tư nhân hóa đất đai…

Đâu phải đến năm 2013 khi sửa đổi Hiến pháp, nước ta mới quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân tại Điều 53 “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Cách đó hơn 33 năm vào năm 1980, khi tiến hành xây dựng Hiến pháp của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, qua góp ý của toàn dân và qua thảo luận tại Quốc hội khóa VI, Điều 19 của Hiến pháp năm 1980 đã được thông qua với nội dung “Đất đai, rừng núi, sông hồ…đều thuộc sở hữu toàn dân” cùng với Điều 20 “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, nhằm bảo đảm đất đai được sử dụng hợp lý và tiết kiệm. Những tập thể và cá nhân đang sử dụng đất đai được tiếp tục sử dụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật…”. Đến Hiến pháp năm 1992 với Điều 17 quy định “Đất đai, rừng núi, sông hồ… đều thuộc sở hữu toàn dân”, Điều 18 “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài…”. Trên cơ sở Hiến pháp, ngày 29/11/2013, Quốc hội đã thông qua Luật Đất đai với Điều 4 quy định rõ: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của luật này”.

Tất cả các quy định trên đều đã được xây dựng trên lập luận vững chắc: Đất đai chính là thành quả của sự nghiệp giữ nước và dựng nước hàng ngàn năm của cả một dân tộc anh hùng và bất khuất. Nếu không kiên cường chiến đấu với giặc ngoại xâm thì độc lập tự do còn không có còn nói gì đến đất với đai và có thể khẳng định rằng từng tấc đất hiện tại đã thấm đẫm biết bao mồ hôi, nước mắt và cả máu của tổ tiên, ông cha để giữ gìn cho các thế hệ hôm nay và cả mai sau… Đất đai đó là thành quả chung của cả dân tộc chứ đâu phải của riêng ai nên phải thuộc sở hữu chung của toàn dân và được sử dụng phục vụ cho mục đích chung của toàn thể nhân dân…

Do vậy, không thể để cho một số người nào đó có quyền độc chiếm sở hữu đất đai bởi vì đó không những là kìm hãm sự phát triển nông nghiệp mà còn dẫn đến tình cảnh đại đa số nông dân không có ruộng đất, phải thuê lại của địa chủ, phong kiến và bị bóc lột địa tô rất nặng nề như trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Cũng cần phải nhớ rằng dưới thời phát xít Nhật chiếm đóng nước ta, bắt dân ta nhổ lúa trồng đay đã dẫn đến tình cảnh hàng triệu nông dân bị chết đói vào năm Ất Dậu hay việc tập trung đất đai trong tay một số người có nhiều tiền, dẫn đến có người sở hữu quá nhiều đất, người không có tấc đất cắm dùi đã diễn ra trong cải cách ruộng đất của chế độ Mỹ – Diệm những năm 60 của thế kỷ XX ở miền Nam nước ta… Từ thực tế ấy, tất yếu không bao giờ thiết lập lại chế độ sở hữu tư nhân về đất đai để đưa người dân Việt Nam trở về chế độ nông nô – địa chủ như trước kia được!

Hơn nữa, trong điều kiện nước ta đang thực hiện quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, việc thiết lập chế độ sở hữu tư nhân về đất đai là một yếu tố cản trở đầu tư cho phát triển kinh tế – xã hội bởi vì muốn công nghiệp hóa, đô thị hóa thì đòi hỏi phải chuyển một diện tích đất nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp. Nếu đất đai thuộc sở hữu tư nhân thì nhà đầu tư phải thỏa thuận với quá nhiều người và chỉ cần có một người không đồng ý với phương án chung hoặc ra giá quá cao thì làm sao mà triển khai thực hiện được… Nếu đất đai thuộc sở hữu tư nhân thì thử hỏi ai có quyền ngăn cản người chủ đất sử dụng đất – tài sản riêng của họ – theo ý họ. Và như thế đất đai có xu hướng được sử dụng không hiệu quả, không vì mục đích sinh tồn của đa số dân cư khi một người sở hữu nhiều đất nhưng không có nhu cầu sử dụng đất đó có hiệu quả trong khi có rất nhiều người nông dân sống lay lắt vì không có đất, không có việc làm!

Thực tế cho thấy, trong những năm vừa qua, khi Nhà nước cho phép người có quyền sử dụng đất chuyển nhượng quyền này, một số người đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long đã vì khó khăn, vì tham lời trước mắt mà bán đất để rồi không có đất sản xuất nên sa vào khó khăn, nghèo đói buộc xã hội phải cứu trợ và Nhà nước phải giao đất khác cho họ tiến hành sản xuất. Nếu đất đai thuộc sở hữu tư nhân, khi nhiều hộ nông dân nghèo mất đất, thử hỏi nếu Nhà nước muốn mua lại đất để giao cho dân thì liệu có thể thực hiện được không?

Mặc dù hiện nay, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, song cũng không thể thực hiện đa hình thức sở hữu về đất đai. Bởi đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và có hạn; là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là nguồn sống của nhân dân, là tài sản, nguồn lực to lớn của đất nước, không giống như các tư liệu sản xuất, tài sản thông thường khác. Do đó, đất đai phải thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của pháp luật thì việc khai thác, sử dụng đất đai mới bảo đảm hiệu quả cao, nhằm phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh của đất nước.

Cần khẳng định rằng, sở hữu toàn dân về đất đai không phải là khái niệm “mơ hồ”, “tù mù” hay người dân không có thực quyền gì đối với đất đai. Sở hữu toàn dân về đất đai không đồng nhất với sở hữu Nhà nước về đất đai. Sở hữu toàn dân về đất đai phải được hiểu là đất đai không thuộc sở hữu của riêng ai, toàn thể nhân dân là chủ sở hữu đối với đất đai, Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và được giao nhiệm vụ thống nhất quản lý. Việc quy định Nhà nước ở nước ta là đại diện chủ sở hữu đất đai và thống nhất quản lý xuất phát từ bản chất của Nhà nước là Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Mọi tài sản, tư liệu sản xuất do Nhà nước đại diện cho dân là chủ sở hữu đều được sử dụng vào mục đích phục vụ lợi ích chung của toàn thể nhân dân. Đồng thời, thực hiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai không làm hạn chế đến quyền của tổ chức, cá nhân sử dụng đất. Các điều 166 và 167 của Luật đất đai đã quy định rõ: người sử dụng đất có các quyền chung và các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất. Thực tế bao nhiêu năm nay chính người dân đã thực hiện những quyền có liên quan đến đất đai của mình một cách thuận lợi…

Trong thời gian qua, ở nước ta nảy sinh một số tiêu cực, hạn chế trong quản lý, sử dụng đất đai, song những hạn chế, tiêu cực đó không phải do bản chất của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai gây ra. Những hạn chế, tiêu cực đó một mặt, do sự yếu kém trong quản lý đất đai của Nhà nước, chính sách đất đai thay đổi qua nhiều thời kỳ. Đến nay, chủ trương, chính sách, pháp luật về đất đai còn một số nội dung chưa đủ rõ, chưa phù hợp; tổ chức bộ máy, năng lực đội ngũ cán bộ về quản lý đất đai còn không ít hạn chế, yếu kém, một bộ phận còn lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi, tham nhũng. Mặt khác, do nước ta trải qua nhiều thời kỳ, giai đoạn lịch sử khác nhau, đất đai có nguồn gốc rất phức tạp… Trước thực trạng đó, Luật đất đai năm 2013 đã có những điều chỉnh, bổ sung để việc quản lý, sử dụng đất đai chặt chẽ, hiệu quả hơn, hạn chế nảy sinh những tiêu cực, hạn chế và Nhà nước tiếp tục sửa đổi, bổ sung thêm để hệ thống pháp luật về đất đai ngày càng hoàn thiện kể cả việc xem xét sửa đổi Luật Đất đai 2013 theo hướng mở rộng hạn điền cho việc tích tụ ruộng đất được thuận lợi cũng như khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mạnh vào nông nghiệp, nông thôn…

Được biết cho đến năm 2003, cả nước đã cơ bản giao xong đất nông nghiệp cho gần 12 triệu tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng, với diện tích gần 9,4 triệu ha. Trong đó, đã cấp hơn 11,49 triệu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (tương ứng với 92,7% số đối tượng và 97,8% số diện tích); đã giao và cho thuê sử dụng vào mục đích chuyên dùng và xây dựng nhà ở 44.691 dự án (công trình) với tổng diện tích 405.910 ha… Trong hai năm 2014 và 2015 là những năm trọng tâm triển khai tổ chức thi hành Luật đất đai năm 2013, cả nước đã tiếp tục thực hiện công việc này. Đến hết tháng 6 năm 2015, đã cấp 41.757.000 Giấy chứng nhận với diện tích 22.963.000 ha, đạt 94,9% diện tích cần cấp các loại đất chính và tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều cơ bản hoàn thành mục tiêu cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Nghị quyết số 30/2012/QH13 của Quốc hội…

Từ những vấn đề trên cho thấy, việc quy định đất đai là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của pháp luật trong Hiến pháp và Luật đất đai là rất cần thiết và đúng đắn. Việc làm này phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh nước ta, bảo đảm sự thống nhất lợi ích của người dân và lợi ích quốc gia chứ không phải như Hà Sĩ Phu và một số người đưa ra luận điệu cho rằng sở hữu toàn dân về đất đai là “nói chữ”, là “cướp đi quyền tư hữu”, là người dân không có quyền thực sự đối với đất đai… Luận điệu của họ nhằm nhằm mục đích cổ súy cho tư nhân hóa đất đất đai, phủ nhận chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và thực chất là cản trở việc triển khai thực hiện các quy định của Hiến pháp về đất đai đã có từ 33 năm nay…

Và đó cũng chính là điều mà Hà Sĩ Phu và cả những kẻ “đồng hội đồng thuyền” biết rất rõ, nắm rất rõ vì họ cũng đang sống trên đất, đang được sử dụng đất và có kẻ còn đang kinh doanh trên đất để kiếm lợi. Thế nhưng họ cố tình không muốn biết để thực hiện những âm mưu, toan tính trái “đạo lý, luân thường”, đi ngược lại với lòng mong muốn của toàn thể dân tộc Việt Nam đang ngày đêm hăng say lao động cống hiến sức mình để giữ gìn và bồi bổ cho đất đai – thành quả hàng ngàn đời mà cả dân tộc đã có được./.

Ngàn Thông