TỪ BÀI HỌC CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA VĨ ĐẠI


Chúng ta đều hiểu sâu sắc rằng: Cách mạng Tháng Mười Nga là “cẩm nang” thần kỳ, là sự khai sáng để các dân tộc bị áp bức, bất công trên toàn thế giới đứng lên đập tan xiềng xích, đi tới thắng lợi cuối cùng trong cuộc đấu tranh cho: Quyền được làm người, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Cẩm nang ấy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu và truyền bá vào Việt Nam, giúp nhân dân thấy được con đường giải phóng dân tộc. Người khẳng định: “Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo Nhân dân làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đưa Nhân dân ta từ phận người nô lệ trở thành người làm chủ đất nước.

Tuy nhiên, thời gian qua, các thế lực thù địch đã công kích xuyên tạc, bài bác Cách mạng Tháng 10 Nga, phủ định học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học của Mác, cho rằng chủ nghĩa Mác – Lênin đã trở nên lỗi thời và quá độ lên CNXH là đi vào ngõ cụt, không có tiền đồ.

Cần nhận diện rằng:

Sau Cách mạng Tháng Mười, mô hình chủ nghĩa xã hội ra đời trong bối cảnh hết sức đặc biệt. Nền kinh tế Nga vốn lạc hậu lại bị tàn phá nặng nề trong chiến tranh thế giới thứ nhất, sau đó là nội chiến, chiến tranh can thiệp của 14 nước đế quốc; Nga lại bị bao vây, cấm vận kinh tế.

Từ năm 1918 đến mùa xuân 1921, Nga buộc phải đề ra Chính sách “cộng sản thời chiến”, tiến hành quốc hữu hóa tài sản, tư liệu sản xuất quan trọng nhất của bọn tư sản độc quyền, đại địa chủ và các thế lực chống phá cách mạng khác, để đảm bảo cung cấp lương thực cho tiền tuyến và cho nhân dân thành thị. Việc xây dựng bộ máy nhà nước, nền kinh tế phục vụ chiến tranh trong điều kiện hoàn cảnh như thế là việc làm không thể khác.

Thực tế, Nga đã thành công rực rỡ trong sự nghiệp công nghiệp hóa với thời gian chưa đầy 20 năm. Trong hai thập kỷ ấy, quá nửa thập kỷ Nga chìm trong nội chiến, chống chiến tranh can thiệp và khôi phục kinh tế. Chỉ có hơn thập kỷ, Nga dồn lực cho CNXH và đã làm nên chiến thắng lẫy lừng, cứu nhân loại thoát khỏi họa phát xít trong chiến tranh thế giới thứ hai. Đừng vô cảm mà phủ nhận vai trò to lớn của Cách mạng Tháng 10 Nga…

Việt Nam có những tương đồng: Sau Cách mạng Tháng 8/1945, Pháp quay lại xâm lược Việt Nam, đất nước ta lại phải bước vào một cuộc chiến tranh vệ quốc với 9 năm kháng chiến chống Pháp. Mọi nhân, tài, vật, lực đều dồn hết cho cuộc chiến với khẩu hiệu “tất cả cho tiền tuyến” và đã: “9 năm làm một Điện Biên/ Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ 7/5/1954, đất nước bị chia cắt 2 miền, sông Bến Hải là giới tuyến tạm thời 2 năm để chờ ngày Tổng tuyển cử (theo Hiệp định Giơ-ne-vơ). Nhưng không ngờ, giới tuyến tạm thời 2 năm đã phải kéo dài suốt 20 năm. Dòng Bến Hải quặn đau, nhuộm đỏ máu người bởi sự bội ước hiệp định Giơ-ne-vơ của Ngụy quyền Ngô Đình Diệm. Để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chúng ta buộc phải tiến hành quốc hữu hóa tài sản, tư liệu sản xuất, vừa đảm bảo lương thực cho miền Bắc, vừa chi viện cho chiến trường miền Nam. Cũng như nước Nga Xô Viết, chúng ta phải xây dựng bộ máy nhà nước, xây dựng nền kinh tế thời chiến phục vụ giải phóng thống nhất đất nước. Và chiến thắng 30/4 đã đi vào lịch sử như một huyền thoại không chỉ đơn thuần là sự chiến thắng mà còn ở cái cách chúng ta làm nên chiến thắng đó.

Các thế lực thù địch còn cho rằng Cộng sản Việt Nam đã đi theo khuôn mẫu của Cách mạng tháng 10 nên đã làm nghèo đất nước. Chúng cho rằng ta đã vội vàng xây dựng CNXH ở Miền Nam để đưa cả nước đi lên CNXH là sai lầm nghiêm trọng. Sai lầm này đã phá hoại đất nước gấp nhiều lần so với sự tàn phá của chiến tranh. Từ đó, chúng “hạ bệ thần tượng” Lê Nin, Hồ Chí Minh, xét lại cuộc cách mạng Tháng Tám, phủ nhận thắng lợi lịch sử của Việt Nam qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và đánh Mỹ.

Các thế lực thù địch đã cố tình “bắn” vào quá khứ bằng tư tưởng phản động. Bởi: Nếu chỉ tính từ tháng 8/1945 đến ngày giải phóng hoàn toàn Miền Nam thống nhất đất nước, thì Việt Nam đã trải qua 30 năm chiến tranh tàn khốc. Nếu cộng thêm 4 năm gồng mình với cuộc chiến bảo vệ biên giới Tây Nam (ngày 08/01/1979 giải phóng Phnôm Pênh) và một tháng cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc, cùng một thời gian dài giằng dai sau đó để bảo vệ từng tấc đất biên cương hai đầu Tổ Quốc, thì Việt Nam trải qua gần 40 năm chinh chiến.

Thử tưởng tượng xem, cứ mỗi năm chiến tranh thì sức người, sức của mà đất nước này phải bỏ ra là bao nhiêu? Và cứ mỗi năm bị chiến tranh tàn phá thì phải mất bao nhiêu năm để tái thiết. Thật khó có con số cụ thể nào để thống kê một cách chính xác những thiệt hại mà chúng ta phải gánh chịu, dù rằng cuộc chiến của chúng ta là cuộc chiến chính nghĩa. Vậy nên, chớ khập khiễng mà quy kết rằng: Đường lối của ĐCS học từ Cách mạng tháng 10 Nga đã phá hoại đất nước gấp nhiều lần sự tàn phá của chiến tranh.

Chúng ta đã có những nóng vội, chúng ta có những sai lầm khi duy ý chí rằng: Chiến thắng trong chiến tranh sẽ chiến thắng trong kinh tế. Từ duy ý chí, chúng ta vội vàng đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội mà biểu tượng còn lưu đọng mãi đến bây giờ là mô hình “cha chung không ai khóc, đất chung chẳng ai chịu làm”…Nhưng trong sai lầm, lại hiện hữu cái may. May, vì nếu không xây dựng mô hình “cả nước đi lên CNXH” thì lấy gì để cung cấp sức người, sức của cho chiến trường ở hai đầu biên giới dằng dai suốt 10 năm. Và như thế, liệu ta có đầy đủ sức người, sức của để giữ yên đất nước? câu trả lời không phải là khó lắm…

Một điểm rất đáng lưu ý nữa của Cách mạng Tháng 10, sau kết thúc nội chiến, Đại hội X Đảng Cộng sản Nga tháng 3 năm 1921 đã đề ra “Chính sách kinh tế mới”, gọi tắt là (NEP ). Lênin chỉ rõ: Trong những điều kiện mới, coi việc sử dụng những hình thức “quá độ của chủ nghĩa tư bản nhà nước” là một bộ phận rất quan trọng của chính sách này (Chính sách NEP). 

Đây là điểm khá đặc biệt mà Đảng ta đã nghiên cứu rất kỹ và vận dụng thành công trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước. Theo Lênin, thông qua việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước, giai cấp vô sản có thể học tập, kế thừa và phát huy có chọn lọc tất cả những tài sản vật chất – kỹ thuật và tinh hoa chất xám trong kinh nghiệm sản xuất kinh doanh; khoa học – kỹ thuật và quản lý kinh tế của các chuyên gia tư sản. Nhà nước vô sản có thể sử dụng kinh nghiệm các chính sách, biện pháp điều tiết, vận hành kinh tế, vận hành xã hội chắc lọc từ chủ nghĩa tư bản nhà nước. Đây được coi là giai đoạn nền tảng của nền sản xuất hàng hóa xã hội chủ nghĩa hay còn được ví như “phòng chờ” đi vào CNXH… Quan điểm này được Đảng, Nhà nước ta vận dụng một cách linh hoạt cho lộ trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bắt đầu từ sự đổi mới của Đại hội VI của Đảng (1986) và xây dựng “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” ngày hôm nay với nhiều thành tựu vẻ vang, khiến thế giới phải ngưỡng mộ, ngay cả người quyền lực nhất nước Mỹ cũng phải ca ngợi rằng: Đó là những tiến bộ phi thường, là điều các bạn Việt Nam đã làm được trong một thời gian rất ngắn”.

Từ đó khẳng định: Dù các thế lực thù địch có đưa ra trăm ngàn lý do phủ định CM Tháng 10, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng thì những thành tựu mà Đảng và Nhân dân ta đã đạt được là những minh chứng hùng hồn giá trị to lớn từ sự vận dụng những bài học vô giá của Cách mạng Tháng 10 Nga vĩ đại!

Văn Tòa

Advertisements

GIẢI MÃ MỘT SỐ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐỐI VỚI LUẬT AN NINH MẠNG


Luật “An ninh mạng” sẽ chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2019. Các thế lực thù địch đã và đang cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật, cho rằng Luật “An ninh mạng” xâm phạm quyền riêng tư; phi dân chủ; tước quyền tự do ngôn luận; trái thông lệ Quốc tế, cản trở sự phát triển của đất nước…Đây là những thông tin lừa dối vì sự thật không phải vậy.

 

Giải mã một số luận điệu xuyên tạc, sai sự thật

  1. Tung tin: Việt Nam cấm Facebook, Google ở Việt Nam để xài mạng riêng giống Trung Quốc.

Bác bỏ, vì: Việt Nam chỉ yêu cầu các doanh nghiệp nước ngoài cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam. VN không cấm Facebook, Google.

  1. Tung tin: “Chỉ có Việt Nam và Trung Quốc mới yêu cầu phải đặt máy chủ lưu trữ dữ liệu người dùng trong nước”

– Bác bỏ vì: Đến nay, có hơn 18 quốc gia thành viên của WTO (trong đó có Hoa Kỳ, Canada, Úc, Đức, Pháp,…) đã quy định bắt buộc phải lưu trữ dữ liệu trong lãnh thổ quốc gia. Mới đây nhất có thêm Ấn Độ cũng yêu cầu như vậy.

  1. 3. Tung tin: Luật an ninh mạng Việt Nam yêu cầu “Cung cấp toàn bộ thông tin người dùng cho nhà nước, kể cả tin nhắn cá nhân, riêng tư….”

– Bác bỏ vì: Toàn văn luật yêu cầu “Cung cấp thông tin người dùng cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an khi có yêu cầu bằng văn bản để phục vụ điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng”. Có nghĩa là chỉ khi nào có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc khi cần phải điều tra, xác minh về vấn đề hay đối tượng nào đó có dấu hiệu vi phạm pháp luật cần cung cấp thông tin thì lực lượng chuyên trách mới được phép yêu cầu tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin và phải có văn bản của Bộ Công an. Nếu không làm điều gì sai, thì chẳng việc gì phải ngại!

  1. Chúng kêu gọi: “Các công ty không cung cấp thông tin cho Việt Nam vì luật rừng này.”

– Bác bỏ vì: Ai cũng phải có trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện pháp luật

  1. Xuyên tạc:“Luật ANM vi phạm nhân quyền và không có quốc gia nào có luật này…”

– Bác bỏ vì: Rất nhiều quốc gia đã có luật ANM. Tại Đức, Bộ Tư pháp nước này rất coi trọng an ninh mạng, nếu Facebook để người dân kích động bạo lực, chửi bới trên mạng, xuyên tạc sự thật, sẽ bị phạt thẳng tay từ chủ FB đến người phát biểu. Ngày 30/6 năm ngoái, Liên bang Đức đã cho ban hành Đạo luật Chế tài Mạng. Theo đó, chính phủ Đức có quyền yêu cầu các mạng xã hội phải gỡ bỏ các “nội dung trái luật”, nếu không muốn bị phạt số tiền lên đến 50 triệu Euro.

Các “nội dung trái luật” này bao gồm các nội dung phỉ báng tổng thống, phỉ báng nhà nước, phỉ báng tôn giáo, các nội dung có tác động phá hoại trật tự công cộng, kích động hận thù v.v. Để đáp ứng yêu cầu tuân thủ luật này, các trang mạng xã hội lớn hoạt động tại Đức như Facebook, Google hay Twitter đều đã phải thuê thêm hàng ngàn nhân viên để kiểm tra các nội dung có khả năng vi phạm luật.

Lưu ý về những nhóm hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại Luật An ninh mạng:

– Nghiêm cấm việc sử dụng không gian mạng để thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia; chiếm đoạt tài sản; tổ chức đánh bạc, đánh bạc qua mạng internet; trộm cắp cước viễn thông quốc tế trên internet; vi phạm bản quyền và sở hữu trí tuệ trên không gian mạng; giả mạo trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, cá nhân; làm giả, lưu hành, trộm cắp, mua bán, thu thập, trao đổi trái phép thông tin thẻ tín dụng, tài khoản ngân hàng của người khác; phát hành, cung cấp, sử dụng các phương tiện thanh toán trái phép; tuyên truyền, quảng cáo, mua bán hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục cấm theo quy định của pháp luật; hướng dẫn người khác thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

– Nghiêm cấm sử dụng không gian mạng để: Tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế – xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.

– Nghiêm cấm việc sử dụng không gian mạng để: Hoạt động mại dâm, các tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội.

– Nghiêm cấm hành vi tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; gây sự cố, tấn công, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt hoặc phá hoại hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

– Nghiêm cấm các hành vi sản xuất, đưa vào sử dụng công cụ, phương tiện, phần mềm hoặc có hành vi cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông; phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử; xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác.

– Nghiêm cấm các hành vi chống lại hoặc cản trở hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng; tấn công, vô hiệu hóa trái pháp luật làm mất tác dụng biện pháp bảo vệ an ninh mạng; lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi.

Khẳng định:

– Luật An ninh mạng hoàn toàn không cấm hoặc khống chế công dân, các tổ chức kinh tế sử dụng không gian mạng. Luật không có bất kỳ hình thức cản trở nào đối với người sử dụng không gian mạng như những lời xuyên tạc, bịa đặt.

– Luật An ninh mạng không vi phạm thông lệ quốc tế, vì bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội là quyền tối thượng của mỗi một quốc gia mà không một tổ chức quốc tế nào có quyền can thiệp hay cản trở. Hiện nay đã có 138 nước ban hành Luật An ninh mạng, trong đó 18 quốc gia quy định lưu trữ dữ liệu ở trong nước. Đối với các tổ chức thương mại mà chúng ta tham gia cũng đều tôn trọng và cho phép quyền bảo vệ an ninh quốc gia.

Nếu chúng ta không vi phạm những điều trên khi sử dụng không gian mạng, cũng có nghĩa là chúng ta đã góp phần tích cực ngăn chặn mọi rác rưởi xấu xa, độc hại, giữ gìn không gian mạng trong lành, đem lại bình yên và những gì tốt đẹp nhất cho cộng đồng mạng và cho quốc gia, dân tộc.

 

LVT

THƯA TIẾN SĨ PHU


Ngày 10/7/2018, Hà Sĩ Phu đăng bài “Xin đừng gọi tham nhũng là nội xâm”. Hà Sĩ Phu xuyên tạc: Độc đảng cầm quyền tước đoạt quyền dân chủ của nhân dân; đồng nghĩa với việc cướp nước. Làm được việc này theo Hà Sĩ Phu chỉ có bọn quyền lực…và đó chính là bọn nội xâm.

Cái sai thứ nhất:

Hà Sĩ Phu không đồng tình với cách gọi tham nhũng là “nội xâm”. Hà Sĩ Phu lý giải: “Xuất phát từ quan điểm dân là gốc của nước thì ngày nay phải hiểu “mất nước” là tình trạng nhân dân bị mất quyền làm chủ đất nước của mình. Nước vẫn còn đó nhưng nhân dân không làm chủ thì đấy là mất nước”…Hà Sĩ Phu nói thêm: “Quyền làm chủ ấy của nhân dân bị mất vào tay người nước ngoài thì gọi là nạn “ngoại xâm”, mất vào tay kẻ thống trị độc tài trong nước thì đó là nạn “nội xâm”. Giặc ngoại xâm hay nội xâm đều cướp mất của dân quyền làm chủ đất nước, trong đó có quyền quan trọng nhất là quyền làm chủ đối với đất đai, lãnh thổ”. Từ đó Hà Sĩ Phu kết luận: “Bọn nội xâm là bọn tội phạm chính trị chứ không phải bọn tham nhũng”và chính bọn nội xâm này đã bán lãnh thổ, đất đai (mà cụ thể là việc xây dựng các đặc khu kinh tế, kêu gọi đầu tư nước ngoài)…cho ngoại bang nên gọi là bán nước…

Với kiến thức của một tiến sĩ, Hà Sĩ Phu thừa hiểu khái niệm “ngoại xâm” và “nội xâm”. Nói với tiến sĩ rằng, tiến sĩ đã sai khi dùng từ “mất nước” bằng luận giải lập lờ, gian lận ngôn từ. Xin nói ngắn gọn: “Nước, đất nước, tổ quốc” là từ đồng nghĩa, gắn liền với hai chữ “thiêng liêng”. Mất nước tức là mất “đất nước, mất tổ quốc”, mất đi điều thiêng liêng nhất của mỗi một quốc gia, dân tộc, mỗi một con người”. Vì vậy, dù “dân là gốc của nước” nhưng không thể suy ra “mất quyền làm chủ là mất nước”, bởi 2 điều: Về lý, quyền làm chủ là một trong những quyền cơ bản của dân. Lấy một trong những quyền cơ bản của dân để phủ nhận toàn bộ điều thiêng liêng của đất nước, của dân tộc là không đúng.

Thứ hai về thực tiễn: Không ai có thể “cướp” được của dân quyền làm chủ. Bất cứ một đất nước nào dù to, hay nhỏ không thể không có dân; bất cứ một xã hội nào, một thể chế chính trị nào không thể không dựa vào dân. Nói cách khác, dân có sức mạnh vô biên quyết định vận mệnh cho mỗi một quốc gia, dân tộc. Trải qua các triều đại lịch sử Việt Nam, các giai đoạn lịch sử thế giới đã chứng minh chân lý đó. Nhận thức sơ đẳng này không cần người kiến thức “uyên thâm” tầm tiến sĩ mới hiểu mà nó hiện hữu trong tư duy của những con người bình thường nhất…

Không hiểu tiến sĩ nói dân “mất quyền làm chủ” là mất những thứ quyền gì?

– Mất quyền lực ư? Không phải. Nhân dân đang thực hiện quyền lực của mình bằng nhiều hình thức vừa dân chủ trực tiếp, vừa bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước; hệ thống thông tin báo, đài, nhất là mạng xã hội”. Điều này tiến sĩ phải biết, phải thấy…

– Mất quyền giám sát ư? Cũng không phải. Vì toàn bộ hệ thống chính trị đều đang chịu sự giám sát của nhân dân, Đảng cũng không ngoại lệ…

– Mất quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội không? Không.

– Nhân dân có bị tước đoạt quyền làm chủ cuộc sống? Không.

– Nhân dân có bị mất quyền được làm việc? Không.

– Nhân dân có bị mất quyền làm giàu, quyền mưu cầu hạnh phúc? Càng không.

– Nhân dân có bị mất quyền tự do ngôn luận? Hoàn toàn không…

Tiến sĩ hãy nhìn vào bản thân mình, nhiều năm qua tiến sĩ đã viết bao nhiêu bài xuyên tạc thể chế chính trị Việt Nam; tiến sĩ đã bao nhiêu năm kêu gào đòi đa nguyên, đa đảng; tiến sĩ đã viết bao nhiêu bài xuyên tạc thực tiễn, bôi nhọ Đảng, nhà nước, thậm chí tiến sĩ còn dùng cái gọi là kiến thức “uyên thâm” của mình cổ súy bạo lực, lật đổ chế độ. Ai bịt mồm, bịt miệng tiến sĩ ???

Không phủ nhận rằng, có lúc, có nơi; có địa phương này, địa phương nọ vi phạm quyền dân chủ (vi phạm chứ không phải là tước đoạt); hiểu rằng, đó là vi phạm cá nhân. Tiến sĩ đừng lấy cái sai cá nhân mà phủ nhận thể chế; đừng lấy cái cá biệt mà quy chụp tổng thể; đừng lấy cái riêng mà suy ra cái chung…Tiến sĩ đang sống tại Đà Lạt hẳn tiến sĩ biết vai trò làm chủ của nhân dân Đà Lạt đã được phát huy như thế nào, nhất là trên lĩnh vực chống tham nhũng, quản lý đất đai. Lẽ nào tiến sĩ không thấy sự giàu lên trông thấy của người dân Đà Lạt; lẽ nào tiến sĩ không nghe, không biết những tỷ phú nhà vườn. Dù tiến sĩ có viết cả triệu trang giấy, xuyên tạc, bôi nhọ trên vô vàn các trang mạng xã hội thì thực tiễn đó không thể phủ nhận.

Cái sai thứ hai: Hà Sĩ Phu nói: “Chống tham nhũng tuy là việc quan trọng và rất cần thiết nhưng điều quan trọng là phải chống cơ chế chính trị độc quyền là nguyên nhân phát sinh, đồng lõa và bảo vệ cho tham nhũng”

Thưa tiến sĩ Phu, “cơ chế chính trị độc quyền” không phải là nguyên nhân chính yếu phát sinh tham nhũng; cũng không phải là đồng lõa, bảo vệ tham nhũng. Tiến sĩ nên hiểu rằng, tham nhũng xuất hiện từ khi có sự phân chia quyền lực và hình thành nhà nước chứ không phải bây giờ. Có nghĩa, tham nhũng là con đẻ của quyền lực nhà nước, nó nẩy nở và tồn tại dai dẳng từ khi xã hội loài người bắt đầu có nhà nước. Nó trở thành căn bệnh trầm kha mà trên thế giới này chưa có một nhà nước nào đưa ra phương thuốc đặc trị hiệu quả…Xin cung cấp cho tiến sĩ một số vụ tham nhũng chấn động thế giới diễn ra ở các nước đa đảng để tiến sĩ nghiên cứu: Park Geun-hye, cựu tổng thống Hàn Quốc bị các công tố viên cáo buộc 18 tội danh, trong đó có tội biển thủ, lạm dụng quyền lực, ép buộc tập đoàn, và làm rò rỉ bí mật nhà nước. Một trong những cáo buộc nghiêm trọng nhất đối với bà Park Geun-hye là nhận hối lộ 59,2 tỷ won (52,7 triệu USD) từ các tập đoàn lớn của Hàn Quốc, gồm Samsung, Lotte và SK;…Cựu Tổng thống Brazil – ông Luiz Inacio Lula da Silva bị cáo buộc nhận 3,7 triệu real (1,2 triệu USD) tiền hối lộ từ công ty kỹ thuật OAS SA; cựu tổng thống Philippines Joseph Estrada (giữ chức tổng thống từ 1998 đến 2001) bị cáo buộc nhận số tiền trị giá khoảng 11,7 triệu USD tiền bảo kê; Arnoldo Aleman – cựu Tổng thống Nicaragua, ngay sau khi rời nhiệm sở, vị Tổng thống này bị bắt với cáo buộc tham nhũng liên quan đến 100 triệu USD trong các quỹ nhà nước; Pavlo Lazarenko, cựu Thủ tướng Ukraine đã biển thủ 200 triệu USD từ ngân sách nhà nước; còn ở Mỹ, Trung tá Michael Vannak Khem Misiewicz, sĩ quan cấp cao nhất bị kết án tù trong vụ bê bối được coi là tồi tệ bậc nhất lịch sử Hải quân Mỹ, đã bị Tòa án Mỹ kết tội tham nhũng cùng án tù hơn 6 năm và bồi thường 100.000 USD. Trước đó, nhà chức trách Mỹ tịch thu 95.000 USD tiền hối lộ.

Một vài “điển hình” trên để tiến sĩ nhận diện rằng: Tham nhũng không phải được sinh ra từ “cơ chế chính trị độc quyền” mà nó là khuyết tật bẩm sinh của quyền lực. Mặt khác, lòng tham con người là vô đáy, tham nhũng cũng từ bản chất đó mà ra…Vì vậy, dù có “nhiều đảng” hay “một đảng” thì tham nhũng vẫn cứ là tham nhũng. Xin nói thêm, VN đang xây dựng một nhà nước mà mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Vấn đề ở chỗ, nhân dân thực thi quyền lực đó như thế nào mà thôi…

Qua cách viết, lối diễn đạt của tiến sĩ, rõ ràng tiến sĩ đã lợi dụng chuyện tham nhũng để hướng mọi người tới ý thức chính trị, cổ súy đa nguyên, đa đảng, chống lại sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam…Điều lạ ở đây là khi Đảng, Nhà nước thiếu quyết liệt trong chống tham nhũng thì tiến sĩ và những người cùng hội với tiến sĩ thét gào rằng Đảng dung túng bao che tham nhũng. Nhưng khi Đảng quyết liệt chống tham nhũng đến cùng, thì các vị lại cho rằng Đảng vì lợi ích nhóm, vì củng cố quyền lực mà làm. Và cũng lạ thay, trong khi mọi người đang rất hứng khởi vui mừng vì công cuộc chống tham nhũng đáp ứng kỳ vọng lâu nay của nhân dân, thì tiến sĩ và những người cùng thuyền với tiến sĩ lại đồng thanh bênh vực cho bọn sâu mọt vòi vĩnh, ăn cắp hàng chục, hàng trăm ngàn tỷ đồng của nhà nước và nhân dân khi cho rằng chống tham nhũng chưa phải là việc quan trọng và cần thiết nhất…Chỉ từng đó thôi cũng đủ thấy rằng tiến sĩ đã tiền hậu bất nhất, đi ngược lại điều mà nhân dân mong muốn…

Thưa tiến sĩ Phu, tôi tôn trọng học hàm, học vị của tiến sĩ vì nó có được từ rất nhiều năm đèn sách. Tôi tôn trọng tiến sĩ vì bề dày kinh nghiệm tích lũy ở cái tuổi vượt quá “thất thập cổ lai hy”, nhưng tôi hoàn toàn không đồng tình với tiến sĩ về cách nhìn nhận xã hội còn tệ hơn kiểu các “thầy bói xem voi” trong truyện ngụ ngôn “Thầy bói xem voi”. Truyện kể về 5 ông thầy bói mù, đều chưa biết con voi như thế nào. Do bị mù cho nên các thầy phải sờ vào các bộ phận của con voi rồi phán. Ông thì sờ vòi, ông thì sờ ngà, ông thì sờ tai và ông thì sờ chân, thầy khác lại sờ đuôi. Từ những bộ phận sờ được từ bên ngoài, các thầy đã đưa ra những lời nhận xét không đúng. Truyện để lại cho con người bài học nhân sinh sâu sắc, cần phải tìm hiểu rõ về sự vật hiện tượng trước khi phán xét, đánh giá, tránh phiến diện, sai lệch không đúng với sự thực.

Người đời sẵn sàng cảm thông cho các thầy bói (trong truyện ngụ ngôn nói trên), bởi các thầy mù. Nhưng với tiến sĩ, người đời khó cảm thông vì tiến sĩ không mù. Những đánh giá, khẳng định thiếu trung thực, thiếu khách quan, thậm chí thù hằn của tiến sĩ không phải do mù ở mắt mà chính do mù mịt ở tư duy.

 

                                                                                        Hoài Trung

Tự do lựa chọn, cái đúng, cái sai!


Đúng là cứ mỗi khi có một sự kiện nào đó thì giới truyền thông, cánh nhà báo, nhất là những cây viết có bề dày kinh nghiệm với “báo mạng” tha hồ săn tin, giật tít và đăng tải khắp chốn cùng tận không bỏ sót thứ gì, kể cả những vấn đề thầm kín, riêng tư của cá nhân ai đó cũng được khai thác, phơi bày không mảy may ngượng ngùng. Quả tình là vô vàn các loại thông tin, không biết tin nào là đúng nữa, bởi có nhiều tác giả cứ viết, rồi đăng mà chẳng có căn cứ gì, số liệu đưa ra nhiều khi chẳng có cơ sở nào hết. Chúng tôi là người đọc đôi khi thấy mình bị coi thường, bị lợi dụng, bị xúc phạm.

Không phải tôi nói chơi đâu nhé, ví như đọc bài viết “Hãy từ bỏ đảng Cộng sản” của tác giả Phạm Chí Dũng trên trang Chân Trời Mới, có lẽ tác giả muốn lấy sự kiện ông Chu Hảo nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ bị đề nghị kỷ luật để viện dẫn nhiều thông tin không đúng sự thật, để vận động mọi người “bỏ Đảng”, từ bỏ con đường nhân dân lựa chọn; rồi chia sẻ, gắn kết với những nhân vật “nổi tiếng” trong giới đã có khuynh hướng không thực hiện những điều mà họ trước đây đã hứa trước Đảng, trước dân, từ lâu tự rời bỏ Đảng nên mới “đồng cảm” cho rằng Rất chia sẻ và xin chúc mừng nhà khoa học Chu Hảo, nhà văn Nguyên Ngọc …quyết từ bỏ ‘đường về nô lệ’ và ‘phản dân hại nước’. Rồi tác giả còn đưa ra con số thống kê là “đã có ít nhất 11 người tuyên bố bỏ đảng”và lại bình luận rằngCon số từ bỏ quá ít ỏi so với gần 4 triệu đảng viên…”. Rồi tác giả lại đưa ra con số “Năm 2013, một con số thống kê chính thức của một cơ quan đảng đã cho thấy có đến 40% đảng viên nằm trong những dạng thoái đảng… Cho tới nay, hẳn tỷ lệ này còn phải cao hơn – có thể lên đến 50 – 60% …”. Như thế đã thấy mâu thuẫn giữa hai thông tin nêu trên. Vấn đề là mục đích của tác giả đưa ra trong bài viết này đã rõ. Vậy nên với những độc giả như chúng ta cũng cần nhìn nhận cho thật khách quan, công tâm để phân biệt rõ hơn đối với những thông tin kiểu như thế này. Đi vào cụ thể bài viết chúng ta thấy:

Nói về thông tin “11 người tuyên bố bỏ đảng” của tác giả Phạm Chí Dũng trong đó có giáo sư Chu Hảo và nhà văn Nguyên Ngọc, đây lại là những trí thức, nhà văn có tư tưởng thoái trào từ khá lâu rồi, không phải bây giờ mới tuyên bố mà do họ tự thoái hóa, tự diễn biến. Bây giờ tác giả lại nhân cơ hội việc ông Chu Hảo bị kỷ luật để đưa thông tin này, thực ra cố tình tạo ra “tính thời sự” mà thôi, trên thực tế nhiều người đã biết từ nhiều năm nay ông Chu Hảo đã có những bài viết “động trời” và liên kết chỗ nọ, chỗ kia để đưa ra một số sản phẩm gọi là “minh chứng” cho chủ đích của ông. Chưa dừng ở đó ông còn đi vận động một số người nữa tham gia nhóm này, nhóm kia (nhóm kiến nghị 72, 61). Cộng đồng cũng đặt câu hỏi vì sao mấy ông đảng viên cao niên, có trình độ học vấn cao hẳn hoi, được nhà nước đãi ngộ như thế mà lại thay đổi, làm trái hoàn toàn với những gì trước kia họ từng làm và từng hứa trước nhân dân, giờ lại còn có tư tưởng chống Đảng, chống Nhà nước. Riêng đối với ông Chu Hảo còn là Tổng Biên tập báo Tri thức, ông có những bài viết, phát ngôn có nội dung trái với cương lĩnh chính trị, với quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, tác động xấu tới tư tưởng trong xã hội. Thử hỏi hành xử như vậy, có xứng tầm trí tuệ, có xứng với tư cách một đảng viên đứng trong tổ chức đảng nữa hay không?

Nói về nhà văn Nguyên Ngọc trước đây từng là một nhà văn nổi tiếng với nhiều tác phẩm văn học để đời, như “Đất nước đứng lên”, “Rừng Xà nu”… ca ngợi về sự hy sinh của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến giành độc lập, tự do,… Nhiều thứ trên đời thật khó lý giải, với chúng tôi nghĩ đơn giản có lẽ do tuổi đã cao, kém phần “minh mẫn” nên ông đã nói ngược hoàn toàn với những gì ông đã chứng kiến và cho ra những sản phẩm để đời trước đây. Những độc giả đã từng yêu mến ông cảm thấy thất vọng vô cùng với những hành xử ngược đời của chính ông, liên tiếp từ chối nhận các giải thưởng về văn học nghệ thuật nhưng với cái cách từ chối “không giống ai”; sau đó ông được đề cử giải thưởng Hồ Chí Minh, nhưng không đủ số phiếu bầu, nên ông tỏ thái độ dằn dỗi, không thèm nhận Huân chương Độc lập. Sau đó ông lại nhận, y như “một đứa trẻ con đòi quà” vậy; rồi lại từ chối nhận giải thưởng Hồ Chí Minh. Ông còn tham gia vào đủ thứ chuyện khác, cùng ký tên kiến nghị tước quyền của Đảng, rồi kích động chiến tranh với Trung Quốc, bây giờ ông cầm đầu nhóm vận động thành lập cái gọi là “Văn đoàn độc lập” gồm một phường gian manh, tục tĩu, cơ hội, chuyên vu cáo xuyên tạc, đả kích chế độ, phủ nhận sạch trơn những gì mà dân tộc ta và ngay chính ông đã từng gây dựng cho nền văn hóa của dân tộc. Xâu chuỗi lại toàn bộ những gì ông đã làm, thì có thể thấy ông Nguyên Ngọc không hoạt động đơn thuần về văn chương mà đã có mưu đồ chính trị rõ nét. Chẳng những thế, ông giữ khư khư cái nhìn lệch lạc, thiếu công bằng về xã hội. Những người mà ông tụ tập xung quanh, dù ông dẫn đầu hoặc ông đi theo, không ít thì nhiều đều có cái nhìn hằn học với Đảng và Nhà nước Việt Nam. Thử hỏi tác giả đồng tình, ca ngợi những con người như thế liệu có đúng không?.

Đã vậy, tác giả còn viện dẫn rằng “…Chính vào lúc này, nền kinh tế Việt Nam đang đặt một chân vào vực thẳm khủng hoảng, và chỉ cần thêm ít năm nữa thôi, cơn ung hoại sẽ lan ra toàn thân để không thể một liều thuốc đặc trị nào còn tác dụng…”. Nói như thế mà không biết ngượng, vì có lẽ chính tác giả không chịu cập nhật thông tin thời sự hoặc cố tình lấp liếm, chủ ý đưa thông tin xiên xẹo, vu khống. Mọi người đều biết rằng, những ngày vừa qua, trên các phương tiện truyền thông đều đưa tin về tình hình kinh tế xã hội của Việt Nam, với những con số thống kê khá thuyết phục. Ví như năm 2018 khả năng đạt và vượt mục tiêu tăng trưởng GDP 6,7%, kiểm soát lạm phát ở mức dưới 4%; 9 tháng đầu năm 2018, tăng trưởng GDP đã đạt 6,98%, là mức cao nhất so với cùng kỳ hàng năm kể từ năm 2011 trở lại đây. Cùng với đó, nhiều tập đoàn kinh tế lớn làm ăn hiệu quả, nhiều quốc gia đã đầu tư vào Việt Nam; Chính trị – xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường, chủ quyền quốc gia được giữ vững, vị thế đất nước ngày càng nâng cao; văn hóa, xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt. Nhìn rộng ra một chút, thêm vài dẫn chứng nữa để thấy rõ hơn, theo báo cáo của Viện Toàn cầu McKinsey (MGI), công bố ngày 12/9 vừa qua tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) ở Hà Nội, Việt Nam nằm trong 18 nền kinh tế được đánh giá là “đạt hiệu quả vượt trội hơn” trong vòng 50 năm qua; Ngân hàng Trung ương Qatar (QNB) đã nhận định rằng “con hổ” mới nhất của châu Á hiện nay là Việt Nam; Payoneer, một công ty thanh toán điện tử lớn của Mỹ đánh giá “Việt Nam cho thấy tiềm năng đặc biệt trong không gian thương mại điện tử nhờ vào kinh tế và lịch sử sản xuất”; Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) nhận định, nền kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng tốt trong ngắn hạn nhờ nhu cầu trong nước tiếp tục mạnh lên… Truyền thông quốc tế đánh giá kinh tế Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ. Theo Bloomberg, Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ từ một quốc gia chỉ xuất khẩu dầu thô, cà phê và giày dép nay trở thành một trung tâm sản xuất thu hút những tập đoàn lớn của thế giới điển hình như Samsung Electronics. Tờ Financial Times của Anh đưa ra dẫn chứng cụ thể về những con số tăng trưởng ấn tượng trên nhiều lĩnh vực, ví dụ như Việt Nam dẫn đầu khu vực Đông Nam Á khi thu hút được 6 tỷ USD vào thị trường chứng khoán

Những minh chứng trên chưa thật là đầy đủ, nhưng cũng để thấy rằng thông tin mà tác giả Phạm Chí Dũng đưa ra trong bài viết là không đúng sự thật, có chủ ý tạo dung, hư cấu đưa vào bài viêt, xuyên tạc, bóp méo, bịa đặt, thiếu khách quan trong phân tích cũng như đưa ra con số thống kê thiếu thực tế, nhằm lợi dụng lòng tin của cộng đồng mạng để lôi kéo, kích động gây mất niềm tin của người dân với Đảng, Nhà nước; kêu gọi mọi người tẩy chay, thoái Đảng là một việc làm thiếu công tâm, không trong sáng chắc có lẽ cũng sẽ bị cộng đồng mạng lên án, tẩy chay mà thôi.

Nguyễn Văn Đại

TỔNG BÍ THƯ ĐỒNG THỜI LÀ CHỦ TỊCH NƯỚC CHUYỆN KHÔNG MỚI LẠ


Hội nghị Trung ương 8, khóa XII đã thống nhất 100% giới thiệu Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để Quốc Hội khóa XIV bầu giữ chức Chủ tịch nước tại kỳ họp thứ 6 diễn ra vào ngày 22/10/2018. Nhân dân, cán bộ, đảng viên cả nước đều rất đồng thuận. Vậy mà những ngày gần đây, trên các trang mạng xã hội, những kẻ thù địch không ngớt lời xuyên tạc:“Tổng Bí thư sẵn sàng cấu kết với Trung Quốc để thực hiện việc thôn tính Việt Nam và sẽ tìm mọi cách nắm giữ chức vụ Chủ tịch nước để đễ dàng thực hiện mục tiêu đó”. Chúng độc địa cho rằng “đó là đại họa không chỉ đối với người dân Việt Nam mà còn đối với những cán bộ, đảng viên đang phục vụ cho Đảng cộng sản Việt Nam”

Chuyện không mới

Thực ra, việc một người vừa giữ cương vị lãnh đạo Đảng vừa là nguyên thủ quốc gia không phải là chuyện lạ và cũng chẳng phải chỉ có ở các nước một Đảng. Mới đây, trong cuộc bầu lãnh đạo Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản (LDP) ngày 20.9. 2018, đương kim thủ tướng nước này, ông Shinzo Abe, đã được bầu lại làm Chủ tịch đảng LDP – đảng đang cầm quyền.Ở Nhật Bản, chủ tịch đảng cầm quyền đương nhiên là thủ tướng chính phủ; không được bầuchủ tịch đảng thì không còn là thủ tướng.Tương tự, ở Quốc đảo Singapore, Tổng Thư ký Đảng cầm quyền, đương nhiên là Thủ tướng Chính phủ. Ở Campuchia, Chủ tịch Đảng Nhân dân Cam-pu-chia đồng thời là Thủ tướng Chính phủ. Nhiều nước ở châu Âu và các khu vực khác trên thế giới cũng được tổ chức tương tự. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, sau năm 1991, đều kết hợp lãnh đạo Đảng và lãnh đạo Nhà nước. Trung Quốc, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản đồng thời là Chủ tịch Quân ủy Trung ương và Chủ tịch nước. Ở Cu-ba, Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng. Lào, Tổng Bí thư đồng thời là Chủ tịch nước; Bí thư Tỉnh ủy đồng thời là Tỉnh trưởng.

Trở lại Việt Nam, vấn đề này cũng không hề xa lạ. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ tối cao của Đảng; và từ tháng 2-1951,Người là Chủ tịch Đảng, đồng thời là Chủ tịch nước cho đến khi Người qua đời (2-9-1969).

Thời kỳ đổi mới, vấn đề Tổng Bí thư giữ cương vị Chủ tịch nước cũng từngđược đưa lên bàn nghị sự. Rõ ràng, đâykhông phải là chuyện mới; không phải là mô hình của riêng Trung Quốc, càng không phải ta làm theoTrung Quốcmà là vấn đề mang tính phổ biến, xuất phát từ quan điểm, điều kiện của từng quốc gia và xu thế thời đại…

Ý đồ ly gián lòng tin

Những kẻ thù địch đã cố tình phớt lờ lịch sử và sử dụng “yếu tố Trung Quốc” để đánh lừa nhận thức, ly gián lòng tin. Đây là thủ đoạn “quân bài gian lận”,  lấy sự kiện có thật rồi đánh tráo bản chất. Chúng lợi dụng sự kiện “giới thiệu Tổng Bí thư để Quốc hội bầu chủ tịch nước” rồi đưa yếu tố Trung Quốc bằng cụm từ: “cấu kết với Trung Quốc”để đánh vào “yếu điểm” của lòng dân, tạo nhận thức sai  lệch về bản chất. Chưa hết, đợt này, đối tượng mà chúng ly gián còn có cả cán bộ đảng viên của Đảng.

Có phải là đại họa?

Về phương diện lý luận, PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc phân tích: “Tổng Bí thư đồng thời Chủ tịch nước là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, thực hiện tốt Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 “Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Đảng quyết định về hoạt động đối nội, đối ngoại của Nhà nước; quyết định cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước; kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước; lãnh đạo quá trình Nhà nước thể chế hóa Cương lĩnh, đường lối của Đảng và động viên tổ chức nhân dân tham gia xây dựng và quản lý Nhà nước”.

Về thực tiễn, vai trò Tổng Bí thư đồng thời là Chủ tịch nước sẽ tăng cường vị thế người đứng đầu Nhà nước khi thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn cũng như trong đối nội và đối ngoại; sẽ thực hiện tốt hơn mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Hiện nay, chúng ta đang đồng loạt triển khai cải cách, xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả theo tinh thần Nghị quyết 18 và 19 kỳ họp thứ 6, BCHTW Đảng khóa XII, vậy nên Tổng Bí thư đồng thời là Chủ tịch nước sẽ có ý nghĩa và tác động rất lớn trong kiến tạo bộ máy và nhân sự theo tinh thần “Thà ít mà tốt”…Cũng cần phải nói thêm rằng: “Đảng lãnh đạo toàn diện”, thành tựu hay sai lầm, khuyết điểm đều là do trách nhiệm của Đảng. Tổng Bí thư đồng thời là Chủ tịch nước, đương nhiên là người chịu trách nhiệm cao nhất trong hoạch định chủ trương, đường lối và công tác quản lý, vận hành, tổ chức thực hiện…

Các thế lực thù địch cho rằng “đại họa” còn nằm ở “thâu tóm” quyền lực. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng nói: “Phải nhốt quyền lực trong lồng cơ chế” và cơ chế ấy không thể không có vai trò kiểm soát và giám sát quyền lực của Nhân dân.Mặt khác, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII cũng đã nhấn mạnh: Cương lĩnh, Điều lệ, những quy định của Đảng vàmới đây là quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là của các Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương,chính là nhữngbiện pháp ngăn chặn sự tha hóa của quyền lực.Có thể, “lồng cơ chế” chống “tha hóa quyền lực” chưa hoàn hảo, nhưng không vì thế mà cho rằng Tổng Bí thư đồng thời là Chủ tịch nước là “đại họa” như những lời xuyên tạc.

Một góc nhìn khác, quyền lực của Đảng là quyền lực chính trị – quyền lực của một tổ chức “đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc”.Với vai trò lãnh đạo và cầm quyền, Đảng cùng lúc phải thực thi hai loại quyền lực:Quyền lực chính trị (Đảng lãnh đạo) và quyền lực Nhà nước (Đảng cầm quyền).Quyền lực chính trị được thể hiện bằngcương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách và “tối thượng quyền lực” của Đảng là sự tích hợp quyền lực giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc.” Còn quyền lực Nhà nước của Đảng là vai trò quyết định của Đảng trong tổ chức, xây dựng Nhà nước và kiểm tra việc thực thi quyền lực Nhà nước. Như vậy, về lý luận lẫn thực tiễn quyền lực Nhà nước không thể thoát ly quyền lực chính trị và sự cầm quyền của Đảng.

Từ những luận giải trên cho thấy: Luận điệu xuyên tạc Tổng Bí thư đồng thời giữ cương vị Chủ tịch nước là “thâu tóm” quyền lực, là “đại họa” hoàn toàn thiếu cơ sở lý luận lẫn thực tiễn, đánh lừa nhận thức, hạ thấp phẩm hạnh cá nhân, chống phá Đảng. Còn chiêu bài “Trung Quốc” đã là thủ đoạn quá cũ kỹ và thô thiển đến mức nực cười.

Nhận diện rằng: Tổng Bí thư Đảng đồng thời giữ chức Chủ tịch nước hoàn toàn phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước, là đòi hỏi tất yếu của thời đại;rất hợp lòng dân không chỉ hôm nay mà còn cho cả tương lai.

L.V.T

KẺ “TIÊN TRI” PHẢN ĐỘNG


Trên blog Doithoai vừa phát tán bài viết của Đinh Quang Anh Thái, có tựa “Hà Sĩ Phu: bị Hán hóa là mất dân tộc”. Xuyên suốt 14 trang giấy A4, ông Thái “nhại” lại “hành trình” hơn 20 năm Hà Sĩ Phu (HSP)“tiên đoán”về tình hình chính trị Việt Nam. Thực chất, đó là thời gian HSP quyết liệt chống phá Đảng, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lãnh tụ, xúc phạm dân tộc Việt Nam…lộ nguyên hình một kẻ phản động !

 

Những kẻ “cùng hội cùng thuyền”.

Thành ngữ Việt Nam có câu, “ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”! Điều này thật đúng với những “kẻ lưu vong cùng chí hướng” mà Đinh Quang Anh Thái tự nhận về những nhóm, tổ chức phản động lưu vong; đó là những kẻ “đánh thuê” cho Mỹ, những sĩ quan Việt Nam Cộng hòa (VNCH); hoặc bản thân, gia đình của những kẻ có nợ máu với cách mạng; hoặc những kẻ bất mãn, cực đoan, phản bội Tổ quốc !…

Những kẻ mà ông Thái “tự hào” liệt kê trong bài viết gồm: Trịnh Đình Thắng, Thanh Hùng, Hoàng Khởi Phong, Nguyễn Văn Cường, Nhật Tiến, Lưu Ngọc Thọ, Hoàng Chính Nghĩa (cựu sĩ quan VNCH)….“Cùng hội” nên chúng “tầm” nhau để  chống phá Đảng, Nhà nước ta. Chúng “tự phong” danh hiệu này, biệt hiệu nọ cho nhau; cổ súy, hô hào, chửi bới, xuyên tạc chế độ, thể chế chính trị nước ta với giọng lưỡi hằn học, đầy thù hận !

Bài viết (lượt ghi các cuộc phỏng vấn của Đinh Quang Anh Thái với HSP từ năm 1995 cho đến giữa tháng 9/2018); tác giả đã “phong” HSP là “tiên tri” với những câu từ sặc mùi tâng bốc, kích động: “Hơn 20 năm trôi qua, các nhận định liên tục của HSP về tình hình chính trị trong nước, trên thế giới, và đặc biệt về mối quan hệ Việt – Trung, vẫn còn nguyên vẹn tính thời sự và tiên đoán chính xác…”. Ông Thái dẫn nội dung thư email HSP gởi ông vào giữa tháng 6/2018 (lúc xảy ra biểu tình ở một số địa phương phản đối Luật An ninh mạng và dự Luật Đơn vị Hành chính – Kinh tế đặc biệt); Thái “mớm” lời, để HSP hả hê rằng: “Tình hình xã hội có những biến chuyển đáng khích lệ (số người dân chủ tiên phong xuất hiện nhiều thêm, số người quan tâm đến vận mệnh đất nước cũng nhiều thêm…); Những cuộc biểu tình tính tới con số trăm ngàn người hôm 10-6-2018 là minh chứng cho sự tiến triển đó…”.

Cần nhận diện, Đinh Quang Anh Thái “mượn” cái gọi “hành trình” 20 năm chống phá Đảng, Nhà nước ta của HSP để hùa theo xuyên tạc, chống phá chế độ ta với dã tâm hết sức đen tối !

Trong một trả lời PV, HSP “lý sự” rằng, đất nước ta hiện nay do “thể chế 03 tính chất là phi khoa học, độc tài và dối trá, nên xã hội không thể phát triển…”. Trước nay, HSP quyết liệt đả phá Chủ nghĩa Mác-Lênin, xúc phạm lãnh tụ Hồ Chí Minh; kêu gào xóa bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam; cổ súy đa nguyên, đa đảng; bài xích, xuyên tạc mối quan hệ giữa nước ta với Trung Quốc; chủ trương: phải “Thoát Trung, Thoát Cộng, mà muốn Thoát Trung, Thoát Cộng thì phải Thoát Hồ” – luận điệu hết sức phản động !…

Xúc phạm lịch sử, nhân dân

Trước hết, HSP là một kẻ bội bạc ! Xin chỉ rõ, giữa lúc cả dân tộc dốc tất cả: tài sản, xương máu cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thì ông ta được ưu ái “ôm” tiền của Nhà nước du học để lấy tấm bằng Phó tiến sĩ Sinh học tại Viện Hàn Lâm Khoa học Tiệp Khắc (cũ). Bao nhiêu năm qua, ông ta chả có đóng góp gì cho đất nước này. HSP vỗ ngực xưng là trí thức, rõ rồi! Song, nếu là kẻ có lòng tự trọng tối thiểu thì ông ta nên “trả nghĩa” cho chế độ này mới phải; ít ra đồng cam, cộng khổ với nhân dân, với đất nước sau những năm tháng bị chiến tranh tàn phá khốc liệt. Đằng này, từ nhận thức lệch lạc, HSP “chọn lựa” cho mình “lối đi” tưởng rằng khôn ngoan với lập luận “hành trình bắt buộc của trí thức” đã đưa ông ta “lạc lối” đến với những kẻ vốn có sẵn lòng hận thù dân tộc! Để từ đó, HSP trở thành một trí thức có cái nhìn phiến diện, cực đoan, suy luận hầm hồ và ngày càng lộ diện một kẻ phản bội Tổ quốc!

Từ một kẻ có học mà vong ơn! HSP “quay đuôi ngoáy rốn” và làm con rối để các thế lực thù địch giật dây, điều khiển. Một “Hành trình” dài đen tối, (từ năm 1988, HSP đã phát ngôn, trả lời PV các đài, báo nước ngoài) xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng ta trong lãnh đạo xây dựng và bảo vệ đất nước. Từ đó đến nay, HSP công khai bộc lộ rõ tư tưởng chống chế độ xã hội chủ nghĩa, lớn tiếng đòi xóa bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam bằng hàng loạt bài viết: “Thằng Bờm”;“Biện Chứng và Ngụy Biện trong công cuộc đổi mới”;“Dắt tay nhau đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ”; “Chia tay ý thức hệ”; tiếp tục trả lời PV, sáng tác, phát tán thơ, vè, câu đối …sặc mùi phản trắc!

Tiếp đến, HSP đã xúc phạm nhiều giới, nhiều ngành ở Việt Nam; trước tiên giới trí thức. Tự cho mình “anh trí thức” khôn ngoan, HSP đã tùy tiện “phán”: những trí thức theo Đảng làm cách mạng, có nhiều cống hiến cho đất nước là bởi vì “trong điều kiện khối óc phát triển chưa tới”(?!). Ông ta lý giải: “rất nhiều người trí thức mà trong một xã hội thông tin không đầy đủ, thì cái trí tuệ phát triển chưa tới” (?). HSP cho mình là trí thức (học ở nước ngoài) nên có “trí tuệ cao”, còn những trí thức trong nước thì “trí tuệ chưa phát triển”(?!). Không những xúc phạm đội ngũ trí thức chân chính, HSP còn xúc phạm đến nhân dân, ông ta nói “trong điều kiện là khối óc phát triển chưa tới, cái đó có thể nói là tình trạng DÂN TRÍ còn thấp” (!?)…

Trong một trả lời PV khác nghị bàn về sự kiện chính phủ Mỹ tuyên bố bình thường hóa với Việt Nam (ngày 11/7/995), sau một hồi “múa mép” khoác lác, HSP quay sang nói về việc bầu cử ở Việt Nam. Ông ta cho rằng, bầu cử ở Việt Nam đều do Đảng chỉ đạo và dùng những thủ đoạn để luôn “thắng phiếu”. Và, HSP xúc phạm nhân dân, xúc phạm cử tri rằng: “số dân thờ ơ với vận mệnh đất nước vẫn chiếm số đông; dân ta có thói quen coi thường lá phiếu, đi bầu cho qua chuyện…”; ông ta còn miệt thị người dân sống ở nông thôn, miền núi và cho rằng họ chẳng hiểu biết gì ?!. HSP buông lời lẽ độc địa xúc phạm phụ nữ nước ta rằng: “Rất nhiều phụ nữ Việt Nam đang nghèo đói, lấy chồng Tàu tại chỗ chẳng hơn sang làm nô lệ tình dục ở tận Đài Loan…” (!).

Xin thưa “tiến sĩ”! Trình độ dân trí của Việt Nam hiện nay đã được nâng lên; người dân (dù sống ở nông thôn, miền núi) đều có trình độ học vấn và kiến thức khoa học – kỹ thuật cao (được áp dụng trong sản xuất, kinh doanh và trong sinh hoạt). Người dân có lòng tự trọng và có ý thức trong phát huy dân chủ khi tham gia bầu cử; họ có trách nhiệm với lá phiếu của mình chứ không “vô tâm” như ông nghĩ. Một trí thức mà tỏ thái độ trịch thượng, xem thường, xúc phạm mọi giới, mọi ngành, nhất là xúc phạm nhân dân; phát ngôn, nhận định hồ đồ, tùy tiện, liệu có xứng tầm trí thức ???.

Không dừng lại ở đó, HSP còn thao thao những chuyện “trên trời, dưới đất” nào là “những nhà lãnh đạo Việt Nam lo sợ trước sự đồng thuận và liên kết của các tầng lớp trí thức và nhân dân;…lo sợ trước làn sóng dân chủ và làn sóng chống Trung Quốc”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, mọi giai cấp, mọi tầng lớp trong xã hội đoàn kết và đồng thuận vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; Liên minh giữa giai cấp Công nhân với giai cấp Nông dân và đội ngũ trí thức đó là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sao lại sợ? Sợ cái gì?.

HSP cố tình xuyên tạc lịch sử, xúc phạm Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam khi ông ta buông cái câu “Chủ nghĩa Cộng sản ngự trị được ở Việt Nam là do ký sinh vào Chủ nghĩa Yêu nước, hút sinh lực từ lòng yêu nước của nhân dân…”. Nói lại cho HSP rõ, yêu nước là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam; truyền thống ấy có từ ngàn xưa; song, chỉ có lòng yêu nước thôi là chưa đủ để giành lại đất nước khi bị thực dân, đế quốc xâm lược; lòng yêu nước của dân tộc phải được Đảng Cộng sản tập hợp và lãnh đạo. Xin hỏi “tiến sĩ”, giai đoạn chưa có Đảng (phong trào khởi nghĩa do các sĩ phu: Nguyễn Thiện Thuật, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám…khởi xướng), thời điểm ấy, người Việt Nam đã có lòng yêu nước chưa? Nguyên nhân nào các phong trào ấy thất bại? Đến khi Nguyễn Ái Quốc mang ánh sáng của Chủ Nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930) mới làm nên Cách mạng Tháng Tám (1945), Đại tháng Mùa xuân năm 1975 lịch sử?. Cần khẳng định rằng, dân tộc Việt Nam đã đánh bại 02 đế quốc xâm lược là Pháp và Mỹ bằng cuộc chiến tranh nhân dân. Ở đó, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã được Đảng ta phát huy, quy tụ và lãnh đạo mới làm nên những chiến công rạng rỡ trong lịch sử đấu tranh của dân tộc, và ngày nay, Đảng ta tiếp tục lãnh đạo nhân dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…

HSP càng nói càng lộ diện kẻ cố tình xuyện tạc lịch sử, bôi nhọ lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. HSP còn lộng ngôn rằng: “Chủ nghĩa Cộng sản đã vào Việt Nam bằng con đường lén lút; nó lẫn vào công cuộc toàn dân chống Pháp chứ không qua sự nhận thức của trí tuệ”(?) Hết sức xằng bậy !…

HSP giả nhân, giả nghĩa kêu gào: “Bị Hán hóa là mất dân tộc. Mất dân tộc thì đau đớn hơn mất nước”. Tiến sĩ đã lú lẫn! Khi đã mất nước thì còn giữ lại cái gì “tiến sĩ”? Mà, bao giờ Việt Nam “bị Hán hóa”? Sao mất dân tộc? Mất nước khi nào ???.

Rõ ràng, một “hành trình” đen tối, HSP từ kẻ đứng ngoài thời cuộc (chả có công cán gì trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc); trở thành kẻ “lạc lối”, bị những kẻ hằn thù Cộng sản tiêm nhiễm trở thành kẻ phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân !

Cũng cần nói thêm, Đinh Quang Anh Thái thông qua “hành trình” đen tối của HSP (kẻ tung, người hứng), tự tâng bốc nhau, “châm ngòi” cho nhau để tỏ rõ dã tâm chống phá Đảng, Nhà nước, thể chế chính trị của nước ta đến cùng…

Chính Tâm

“Một không, Năm có” – LUẬN ĐỆU CỦA KẺ PHẢN ĐỘNG


Hùa theo luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, mới đây trên blog Bauxitevn phát tán bài viết của Trần Minh Thảo, tựa đề “Một không năm có lấy gì cứu nước”. Với những xảo ngôn cũ mèm xuất phát từ dã tâm của kẻ phản động…

 

Mở đầu bài viết, tác giả cố tình lập lờ, úp mở đưa ra những lý luận rời rạc hòng chứng tỏ mình có “tầm” học thuật, có nghiên cứu về chính trị thế giới; về các cuộc chiến tranh xâm lược… khắp các châu lục”…

Sau khi “lượn” một vòng thế giới để đánh lừa người đọc, Trần Minh Thảo đi vào khái niệm cái gọi là “Chủ nghĩa thực dân cũ” và “Chủ nghĩa thực dân mới” nghe rất hùng hồn (!). Không phải tác giả không biết kiến thức mà học sinh cấp 3 đã thuộc làu. Mục đích chính của tác giả từ đưa ra khái niệm, so sánh để đi đến kết luận “Chủ nghĩa thực dân mới không chiếm bất cứ lãnh thổ, không đưa dân chính quốc chiếm cứ đất đai. Bộ máy cai trị là người bản địa nhưng phục vụ lợi ích chính quốc…”. Gần hơn một chút, Trần Minh Thảo “lòi” ra cái “đuôi” dù từ đầu bài viết cố tình “lập lờ” rằng: “Mối quan hệ chủ – tớ gọi là hữu nghị, anh em. Một thuộc quốc như vậy còn là thứ hàng hóa cho các đại cường ra giá với nhau trong quan hệ đối tác”…

Đến đây, thì dã tâm của Trần Minh Thảo đã lộ rõ. Sự “lập lờ” trong đặt vấn đề của tác giả là có chủ đích; một mặt muốn làm “hoa mắt” mọi người về kiến thức “uyên thâm” của mình để “lòe” thiên hạ, một mặt che dấu bộ mặt thật với dã tâm đen tối xuyên tạc, nói xấu, chống phá chế độ của kẻ phản động !

Chuỗi “lý sự dài dòng” của tác giả chưa dừng lại dù đã viết gần một trang giấy. Ông ta tiếp tục miệng lưỡi trơn tuột, lạnh lùng:“Xin giới thiệu một tổng kết các nguyên nhân làm một quốc gia trở thành quận, huyện cho một nước lớn nào đó: “Một không, Năm có”. Đến đây, Trần Minh Thảo “hiện nguyên hình” khi buông câu khẳng định “Việt Nam là quốc gia có bài học kinh nghiệm sâu sắc về “1 không, 5 có”. ???

Trần Minh Thảo nói “tổng kết các nguyên nhân làm một quốc gia trở thành quận, huyện cho một nước lớn nào đó…”…Vậy xin hỏi ông, đối với Việt Nam nguyên nhân này, trường hợp này đã xảy ra ở thời đại nào? Vào giai đoạn lịch sử nào? Việt Nam đã trở thành quận, huyện của nước nào? Và, một nước lớn “nào đó” là nước lớn nào ???

Trong lịch sử dựng nước và giữa nước của dân tộc Việt Nam, đã từng có những giai đoạn khó khăn, tăm tối khi nước ta bị ngoại bang xâm lược, đô hộ, nhân dân ta từng sống trong cảnh nước mất, nhà tan, toàn dân tộc bị nô lệ…Song, với chí khí quật cường của một nước có nền độc lập, tự chủ, tự cường; một dân tộc anh hùng “thà chết chứ nhất quyết không chịu làm nô lệ”, từ các triều đại phong kiến cho đến thời đại Hồ Chí Minh đã có các bậc “công thần lập quốc” đứng lên lãnh đạo nhân dân đánh đuổi ngoại xâm, giành lại độc lộc cho đất nước, tự do cho dân tộc. Đặc biệt, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, dân tộc Việt Nam đã đánh thắng hai đế quốc hùng mạnh: thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đưa nhân dân từ thân phận nô lệ, lầm than trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ cuộc đời mình…

Vậy nên, Trần Minh Thảo nói Việt Nam trở thành quận, huyện của một nước lớn nào đó? Không gì khác hơn sự dã tâm, luận điệu hồ đồ của kẻ phản động !

Hãy thử nghiên cứu cái gọi là “Một không, Năm có” mà Thảo đưa ra, phân tích sau đây là gì? Theo Trần Minh Thảo, “1 không” đó là “không có tổ chức đối lập nên không có tiếng nói phản biện (báo chí, đài phát thanh, truyền hình tư nhân), người dân không được công khai phản biện, không được xuống đường bày tỏ tâm tư, nguyện vọng…”. Ông Thảo biết rằng, cơ chế của nước ta là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”; trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã quy định rất rõ: “Đảng phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân về những quyết định của mình”. Nói về quyền của Nhân dân, Hiến pháp năm 2013 đã dành một chương (Chương II) quy định về “quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”; cụ thể, tại Điều 28 của Hiến pháp đã ghi:“Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước”.

Nhân dân bày tỏ tâm tư, nguyện vọng và góp ý kiến của mình để xây dựng Đảng, Nhà nước thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội, tổ chức xã hội các cấp và được trân trọng tiếp thu, lĩnh hội. Các cơ quan báo chí truyền thông thực hiện vai trò, chức năng phản biện xã hội… Ý đồ của Trần Minh Thảo ở đây là phê phán Đảng ta độc quyền, cổ súy cái gọi “đa đảng đối lập”, “đa nguyên chính trị” cũng hết sức cũ rích. Đây là xảo ngôn, luận điệu tuyền truyền xuyên tạc, kích động cần phải phân biệt, lên án, đấu tranh !

“Năm có” mà Trần Minh Thảo áp đặt cho Việt Nam là:“Bộ máy cai trị lũng đoạn…Bộ máy cai trị là người bản xứ, làm theo mệnh lệnh quan thầy…”; đó là“cư trú xen kẽ (bán nước từng phần – đặc khu…thực dân cũ)…đồng thời di dân chiếm đất, thành lập các điểm dân cư xen kẽ (tên gọi mới là “đặc khu”)…Thực chất, Trần Minh Thảo cũng chỉ là kẻ “ăn theo”, “nói leo” luận điệu xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước, chế độ và bôi nhọ cán bộ lãnh đạo. Hùa theo số đối tượng cực đoan kích động chống đối khi Quốc hội nước ta bàn bạc về dự thảo Luật “Đơn vị Hành chính – Kinh tế  đặc biệt” vừa qua. Nói cho Trần Minh Thảo hay: Đừng vì một số cán bộ tha hóa, biến chất, tham nhũng mà cho rằng “bộ máy cai trị lũng đoạn”; chẳng có ai “làm theo mệnh lệnh” của “quan thầy” nào; chẳng có chuyện bán đất, bán nước…cũng chẳng có chuyện di dân chiếm đất, sống xen kẽ nào cả?! Hiện nay người dân đã có trình độ nhận thức nên họ biết phân biệt đâu đúng, đâu sai chứ không ngu muội như ông và những kẻ lòng dạ đen tối, hằn thù chế độ.

Không có “người dân nào ngu muội” chỉ có những kẻ lòng dạ đen tối, hằn thù chế độ mới ngu muội và buông lời xằng bậy như Trần Minh Thảo mà thôi.

Cái “có” thứ 3 hết sức bịa đặt của Trần Minh Thảo là:“hôn nhân chéo, tạo ra thế hệ lai tạp cho đến khi dân bản địa mất luôn bản sắc giống nòi”? Ông Thảo dẫn chứng cho thiên hạ xem vụ việc nào? Ở đâu đã xảy ra tình trạng này? Ông tự suy diễn, võ đoán, đã quá “lo xa”.

Cái “có” thứ 4 và thứ 5 mà Trần Minh Thảo áp đặt cho Việt Nam dường như ông “lú lẫn” lập lại cái luận điệu đã “nhả” ra ở trên là ca thán Việt Nam không có quyền tự do “xuống đường biểu tình”, “Nhà cai trị nắm hết các phương tiện phổ biến tin tức (không có báo chí tư nhân), người dân chỉ còn “truyền miệng và lên mạng xã hội phát biểu quan điểm…bày tỏ thái độ yêu nước, bảo vệ tổ quốc. Do đó có luật buộc tội hoang báo…luật an ninh mạng”. Nói cho ông Thảo biết, đến nay đã có hơn 80 quốc gia trên thế giới như: Mỹ, Anh, Đức, Hà Lan, Pháp, Canada, Hàn Quốc… đã có các văn bản chính sách, văn bản pháp luật, luật hoặc văn bản dưới luật nhằm tạo ra các thiết chế, cơ sở pháp lý chống lại các nguy cơ đe dọa đến an ninh quốc gia từ không gian mạng; thành lập các lực lượng chuyên trách về an ninh mạng, tình báo mạng, phòng chống khủng bố mạng và tội phạm mạng… chứ không chỉ duy nhất Việt Nam ban hành Luật An ninh mạng.

Rõ ràng, càng nói Trần Minh Thảo càng “lộ rõ” lời lẽ phản động của một kẻ “Tư duy hạt cát”; suy xét sự tình thuộc hạng “Ếch ngồi đáy giếng”.

Thạch Tâm