MỘT CUỘC CHIẾN “KHÔNG CÓ KHÓI THUỐC SÚNG”


Đến nay, nước ta đã trải qua 42 năm hòa bình độc lập, nhân dân được sống trong tự do, ấm no, hạnh phúc. Song, các thế lực thù địch, những phần tử “hằn thù dân tộc” đã và đang tăng cường kích động, lôi kéo hình thành các hội, nhóm hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước; phủ nhận thành quả của cách mạng Việt Nam. Cả đất nước lại phải bước vào cuộc chiến đấu “không có khói thuốc súng”…

 

Lênin – lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân thế giới đã nói: “Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn”. Vấn đề này, hơn 90 triệu người Việt Nam đã quá thấm thía khi biết bao máu xương của cả dân tộc đã thấm đỏ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc trong các cuộc chiến tranh cứu nước vĩ đại; và, hôm nay tiếp tục đương đầu trước các mối đe dọa, hiểm họa để bảo vệ vững chắc nền hòa bình, độc lập của dân tộc.

Nằm trong vị trí “Ba Tây” (Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ) – nơi mà các thế lực thù địch tập trung thực hiện Chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ thể chế chính trị nước ta để lập ra cái gọi “Nhà nước Đề -ga”, cùng với Tây Nguyên, Lâm Đồng luôn là địa bàn mà các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước chống phá quyết liệt nhất.

Là “cầu nối” giữa Tây Nguyên với khu vực Đông Nam Bộ, Lâm Đồng có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Lâm Đồng là căn cứ của cách mạng; nhưng từ sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, trở thành địa bàn hoạt động của tàn quân Fulrô, chúng đã cấu kết với các thế lực phản động ở nước ngoài, lôi kéo đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) chống phá sự nghiệp cách mạng, gây nhiều tổn thất về xương máu cho chính quyền và nhân dân Lâm Đồng trong những năm đầu khó khăn xây dựng địa phương.

Những năm qua, lợi dụng các sự kiện chính trị, một số vụ việc phát sinh trong nước, các thế lực thù địch đã kích động số đối tượng cơ hội chính trị, có tư tưởng chống đối cố hữu lâu năm sinh sống trên đia bàn Lâm Đồng gia tăng hoạt động chống phá, gây rối tình hình an ninh chính trị địa phương. Ngoài ra, tại các địa phương trong tỉnh tồn tại 09 tà đạo và “Đạo lạ” hoạt động khá phức tạp. Lợi dụng sự thiếu hiểu biết của đồng bào các DTTS, “đảng Việt Tân” kích động nhân dân đòi lại đất trong vùng đồng bào dân tộc; kích động người DTTS dời về “làng cũ”; xúi dục nhân dân khiếu kiện kéo dài; mua chuộc những kẻ bất mãn, thoái hóa biến chất, cơ hội chính trị để xây dựng lực lượng đối kháng mới…

Trước nay, trên địa bàn tỉnh, (tập trung ở Đà Lạt) hình thành và hoạt động chống phá của Nhóm “Thân hữu Đà Lạt”; trong đó, có các đối tượng chống đối cực đoan lâu năm: Bùi Minh Quốc, Nguyễn Xuân Tụ (Hà Sĩ Phu), Mai Thái Lĩnh, Tiêu Dao Bảo Cự. Đầu tháng 5/2017, Nhóm này tách ra để hình thành “Câu lạc bộ Phan Tây Hồ”, do Mai Thái Lĩnh cầm đầu. Việc hình thành Câu lạc bộ này nhằm cổ xúy Viện Phan Châu Trinh (ra đời tại Quảng Nam, do Nguyên Ngọc làm Chủ tịch); lợi dung tư tưởng còn bất cập lúc bấy giờ của nhà yêu nước Phan Chu Trinh để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta…

Gần đây, xuất hiện số đối tượng mới như: Trần Minh Nhật (trú tại xã Đạ Đờn, huyện Lâm Hà; thụ án 07 năm tù, được tha tháng 8/2015); Lê Công Tư (ở Đà Lạt) phát tán nhiều bài viết có nội dung rất phản động, tư tưởng “chống cộng” quyết liệt.

Hiện nay, thông qua các trang mạng xã hội, số đối tượng cực đoan trong tỉnh tiếp tục vận động, lôi kéo số đối tượng khác trong các giới, các thành phần xã hội (bác sĩ, giáo viên, học sinh, sinh viên, tù nhân chính trị…) tham gia ký tên cổ súy hầu hết các tổ chức “xã hội dân sự”, các Hội, Nhóm, Câu lạc bộ trái pháp luật trong nước và tiếp tục nhen nhóm để hình thành các Hội, Nhóm mới tại địa phương…

Phương thức hoạt động của các đối tượng cực đoan, cơ hội chính trị trong các tổ chức hội, nhóm là sử dụng hệ thống mạng xã hội (blog, facebook…) để phát tán thông tin, tư liệu của các tổ chức phản động từ nước ngoài vào Việt Nam; bài viết, sáng tác, gởi thư khiếu nại, thư ngỏ… có nội dung bịa đặt, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước; bôi nhọ lãnh tụ, nói xấu cán bộ cao cấp của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ…; Đồng thời, ký tên hưởng ứng các Tuyên bố, Thỉnh nguyện thư của các Hội, Nhóm, tổ chức “Xã hội dân sự” phát tán qua hệ thống mạng xã hội.

Trong nhiều bài viết, trả lời phỏng vấn đài nước ngoài…Hà Sĩ Phu “lớn tiếng” đả phá Chủ nghĩa Mác – Lênnin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, phê phán Đảng ta là độc tài toàn trị; các đới Tổng Bí thư của Đảng ta đều thân Tàu, đã bán bán đất, bán biển cho Tàu, làm cho đất nước lệ thuộc nên nghèo nàn, nhân dân đói khổ; từ đó hô hào “Thoát Cộng”, xúi dục những “đảng viên lưng chừng” ông ta cho là “thức thời nhất” từ bỏ Đảng, quay lưng chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam…Còn Bùi Minh Quốc, ngoài tích cực vận động, lôi kéo thành lập các Hội, Nhóm phản động, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kêu gọi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”; phát tán nhiều bài viết, sáng tác có nội dung cực đoan bôi nhọ chế độ, chống phá Đảng, xuyên tạc Chủ nghĩa Cộng sản, ông ta cho rằng: “Chủ nghĩa cộng sản là một ảo tưởng, một thiết chế phản động kéo lùi sự phát triển của xã hội, một mối đại họa của nhân loại còn khủng khiếp, ghê tởm hơn chủ nghĩa phát xít” (?!)…

Đến nay, có 39 Hội, Nhóm, Câu lạc bộ trái pháp luật, hàng chục tổ chức “Xã hội dân sự” và hơn 300 tổ chức phản động trong và ngoài nước đã hình thành tập trung chống phá Việt Nam. Đồng thời, Việt Nam là nước có số người tham gia mạng xã hội chiếm tỷ lệ rất đông (hiện có 46 triệu người tham gia mạng xã hội), chủ yếu là thanh niên, học sinh, sinh viên; đây chính là đối tượng mà các thế lực thù địch đã và đang “nhắm tới” trong thực hiện Chiến lược “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam.

Đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa nói riêng, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nói chung được Đảng, Nhà nước ta xác định là cuộc đấu tranh kiên quyết, bền bỉ, lâu dài. Đặc biệt, đấu tranh chống hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, phản động trên mạng xã hội là cuộc đấu tranh phức tạp nhất; đòi hỏi phải có sự “vào cuộc” quyết liệt của mọi cấp, mọi ngành và của cả hệ thống chính trị nhằm bảo vệ Đảng, thể chế chính trị nước ta, bảo vệ thành quả của cách mạnh.

Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương, gần 15 năm qua, cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội các cấp ở Lâm Đồng đã tập trung triển khai nhiều biện pháp đấu tranh với hoạt động chống phá của các phần tử cực đoan, phản động, đảm bảo tình hình an ninh chính trị trên địa bàn, làm nền tảng phát KT-XH địa phương.

Các cấp ủy chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; giáo dục để cán bộ, đảng viên và nhân dân “nhận diện” rõ âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù, nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng, tích cực đấu tranh kiên quyết, không khoan nhượng với hoạt động xuyên tạc, chống phá của số đối tượng cực đoan, các thế lực thù địch, củng cố niềm tin vững chắc giữa nhân dân với Đảng, với chế độ, góp phần bảo vệ thành quả của mạng.

Quan tâm thực hiện tốt chính sách của Đảng và Nhà nước đối với dân tộc, tôn giáo; chính sách an sinh xã hội; tập trung phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng đồng bào DTTS, vùng sâu vùng xa còn khó khăn; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; giải quyết dứt điểm những vụ việc nổi cộm từ cơ sở không để phát sinh phức tạp…

Nhận diện, phân loại đối tượng để áp dụng phương pháp đấu tranh phù hợp; đối với những người có tư tưởng lệch lạc, thái độ lưng chừng hoặc phát ngôn trái chiều (do bị lôi kéo, dụ dỗ, mua chuộc…), chủ động gặp gỡ, trao đổi phân tích đúng – sai để thuyết phục..; đối với những kẻ cực đoan, hằn thù dân tộc với dã tâm đen tối, chống đối cố hữu: lên án, đấu tranh trực diện, kiên quyết, không khoan nhượng !

Trước tình hình lợi dụng mạng xã hội để hoạt động chống phá của các thế lực thù địch hiện nay, các cấp, các ngành chức năng tăng cường định hướng thông tin, hướng người sử dụng mạng xã hội, nhất là thanh niên, học sinh, sinh viên chọn lựa thông tin chính thống để tiếp cận; không xem, không tin luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, thù địch trên các trang mạng phản động. Viết bài, phân tích, vạch trần dã tâm đen tối, âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt của các đối tượng cực đoan, thế lực thù địch; comment, bình luận, lên án, đấu tranh phản bác trực diện với những xảo ngôn, bịa đặt, phản động…

Đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng- văn hóa được gắn với công tác đấu tranh, ngăn chặn tình trạng “tự diễn biến”,“tự chuyển hoá” trong nội bộ theo tinh thần Nghị quyết 04 và Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị. Tăng cường xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh làm “sức mạnh nội sinh” trong cuộc chiến “không có khói thuốc súng” trên mặt trận tư tưởng trong tình hình hiện nay…

Chính Tâm

Advertisements

NGUYỄN VĂN THIỆU THỪA NHẬN “TỔNG THỐNG BÙ NHÌN” VÌ LÀ “NGỤY”


Không hiểu ông Trần Đức Cường và những người biên soạn bộ sách “Lịch sử Việt Nam” (tái bản) dài 15 tập hiểu biết lịch sử như thế nào và nhận thức ra sao mà lại tuyên bố từ bỏ cách gọi chính quyền Sài Gòn do thực dân Pháp (1948–1954) và đế quốc Mỹ (1954–1975) là “ngụy quyền”, từ bỏ cách gọi quân đội tay sai của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là “ngụy quân” đúng vào dịp mà nhân dân Việt Nam trong cả nước và cả những công dân đất Việt đang sinh sống trên khắp thế giới hân hoan chào mừng Quốc khánh lần thứ 72 của đất nước để cho các thế lực phản động; trong đó có những người tự xưng là đứng đầu của cái gọi “hội nhà báo độc lập” vội vàng lu loa lên tiếng “chào mừng”???.

 Đồng tình cao với tác giả Minh Tâm trong Bài viết “Cần nhìn nhận đúng và tôn trọng lịch sử”, chúng tôi muốn bàn thêm về chữ “ngụy”để rộng đường dư luận.

 

Ngụy” là một từ gốc Hán có nhiều nghĩa tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể nhưng nghĩa hay gặp là làm một cách giả tạo như trong những từ “ngụy trang”, “ngụy tạo”… và một nghĩa khác là chỉ sự không chính thống, không được công nhận, bất hợp pháp như là trong các từ “ngụy quân”, “ngụy quyền”… Từ xưa đến nay, trong văn hóa giao tiếp và văn học của người Việt, từ “ngụy” chính là giả như “ngụy tạongụy quân tửngụy trangngụy triềungụy quyền”. Và từ này được dùng để chỉ một triều đình hoặc chính quyền do soán đoạt mà có, hoặc do quân xâm lược nước ngoài dựng lên để hợp thức hóa sự xâm lược, đô hộ và phục vụ cho sự đô hộ, xâm lược đó. Còn bản thân chính quyền đó không có thực quyền, thực lực, hữu danh vô thực, không đủ tiêu chuẩn, phẩm chất của một chính quyền hay triều đình đúng nghĩa, mang tính chất bất hợp pháp và không chính danh, được sử dụng nhiều trong các văn bản lịch sử của các nước Đông Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam… Còn ở phương Tây, thuật ngữ này có cách gọi khác là chính quyền tay sai, hoặc chính quyền bù nhìn (puppet state)…

Trần Trọng Kim đã từng giải thích: “Những người làm quốc sử nước Tàu và nước ta thường chia những nhà làm vua ra chính thống và ngụy triều. Nhà nào, một là đánh giặc mở nước, sáng tạo ra cơ nghiệp, hai là được kế truyền phân minh, thần dân đều phục, ba là dẹp loạn yên dân, dựng nghiệp ở đất Trung Nguyên, thì cho là chính thống. Nhà nào, một là làm tôi cướp ngôi vua, làm sự thoán đoạt không thành, hai là xưng đế, xưng vương ở chỗ rừng núi, hay là ở đất biên địa, ba là những người ngoại chủng vào chiếm nước làm vua, thì cho là ngụy triều“.

Lịch sử nước ta cho thấy khi nhà Minh chiếm đóng Việt Nam, một số quan lại người Việt ra cộng tác với quân Minh. Những quan lại này bị nhà Hậu Trần và các triều đại sau gọi là “ngụy quan” hay nhà Mạc bị các sử gia nhà Lê trung hưng gọi là “ngụy Mạc” vì đã soán ngôi vua Lê… Sau khi thực dân Pháp xâm lược, áp đặt chế độ thuộc địa ở Đông Dương và duy trì các hoàng đế bù nhìn như Đồng Khánh, Thành Thái, Bảo Đại… thì họ đã mua chuộc và sử dụng một số cộng sự người Việt, họ cũng cho xây dựng và thành lập một số đơn vị quân đội bản xứ, nhằm hỗ trợ quân chính quy người Pháp trong việc trấn áp nghĩa quân và các lực lượng nổi dậy ở Việt Nam, tiêu biểu là Quân đoàn bộ binh Bắc Kỳ, lính khố xanh, lính khố đỏ, lính khố vàng… Các lực lượng nghĩa quân và người dân đã gọi các đội quân này là “ngụy quân” hoặc “ngụy binh” và cũng gọi các triều đình bù nhìn ở Huế là “ngụy triều” qua đó thường kết hợp với niên hiệu của hoàng đế bù nhìn, như đầu thế kỷ 20 các nhà nho thường gọi triều đình là “ngụy triều Khải Định”…

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tuy nhiên, tại miền Nam, quân Anh trên danh nghĩa là theo lệnh Đồng Minh vào giải giáp quân đội Nhật nhưng đồng thời cũng tạo điều kiện cho quân Pháp vào. Vì muốn khôi phục lại thuộc địa Đông Dương, Pháp tuyên bố sẽ lập chính quyền tại miền Nam. Năm 1948, theo chiến lược “Da vàng hóa chiến tranh”, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée tuyên bố xác nhận cái gọi là “nền độc lập của Việt Nam“, chính thức thành lập “Quốc gia Việt Nam” trong khối Liên hiệp Pháp với mong muốn làm đối trọng với nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nhưng thực tế là quyền hạn cụ thể của chính phủ mới đã không được người Pháp xác định rõ để tránh bị vướng chân sau này cũng như để thuyết phục Mỹ viện trợ kinh tế và quân sự cho Pháp. Ngay chính trong lực lượng quân đội của “Quốc gia Việt Nam” được thành lập lấy tên là “Vệ binh Quốc gia”, rồi “Quân đội Quốc gia Việt Nam” nhưng dường như không có việc bổ nhiệm cho những đơn vị cụ thể cho đến cuối năm 1953 vì Hiệp ước Elysée đã ghi rõ về vai trò chỉ huy của Pháp là: “Trong thời chiến, toàn thể quân đội Quốc gia Việt Nam và Liên hiệp Pháp được đặt chung dưới quyền chỉ huy của Uỷ ban quân sự mà Tư lệnh sẽ là một sĩ quan Pháp có một Tham mưu trưởng phụ tá“. Mặt khác, Pháp không chấp nhận trang bị vũ khí cho những đơn vị “Quân đội Quốc gia Việt Nam” trừ khi Việt Nam chấp nhận một tỷ lệ nhất định sĩ quan Pháp trong Quân đội Quốc gia Việt Nam… nên thực chất quân đội này chỉ có những người lính bản địa mới tuyển mộ được vào các quân đoàn viễn chinh của Pháp và được huấn luyện kém, thiếu kỷ luật, tinh thần chiến đấu thấp; không có sĩ quan chỉ huy cấp cao người Việt mà chỉ huy là các sĩ quan Pháp và phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống hậu cần của Pháp… Do vậy, chính quyền “Quốc gia Việt Nam” được gọi là “ngụy quyền” và  “Quân đội Quốc gia Việt Nam” được gọi là “ngụy binh”, “ngụy quân”, “quân ngụy” hoặc “lính ngụy”… Lúc bấy giờ Đảng ta đã có chủ trương “Phải coi công tác ngụy vận là một công tác vận động quần chúng, nhằm mục đích lâu dài. Phải biết gắn liền ngụy vận với dân vận trong vùng tạm chiếm. Phải phối hợp ngụy vận với tác chiến, khi có những điều kiện thuận lợi thì mở những cuộc tấn công chính trị để làm tan ra hàng ngũ ngụy binh. Cách thức tuyên truyền và vận động ngụy binh đều phải nhằm những điểm nói trên mà định cho thích hợp. Đi đôi với công tác vận động ngụy binh, phải tăng cường công tác vận động binh sĩ Âu – Phi”. Trong năm 1951 Bác Hồ đã từng viết 3 bức thư gửi binh lính trong “Quân đội Quốc gia Việt Nam” như “Vận động ngụy binh“; “Thư gửi các ngụy binh” và “Lời kêu gọi ngụy binh quay về với Tổ quốc“. Đến năm 1952, Người lại viết bức thư “Ngụy binh giác ngộ” nêu một số tấm gương lính người Việt trong quân đội Liên hiệp Pháp rời bỏ hàng ngũ về với nhân dân theo chính sách khoan hồng của Việt Minh đối với những người “lầm lỗi biết hối cải và lập công“…

Còn “Việt Nam Cộng hòa” được đế quốc Mỹ thành lập trên cơ sở kế thừa từ “Quốc gia Việt Nam” nói trên và bị gọi là “ngụy quyền Sài Gòn” hay “ngụy quyền” và “quân lực Việt Nam Cộng hòa” thì cũng bị gọi là “ngụy quân” giống như tiền thân của nó và nhân dân Việt Nam đã anh dũng chiến đấu vì Độc lập, vì Tự do để  “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” như lời Bài thơ chúc Tết năm 1969 của Bác Hồ và thực hiện Lời hiệu triệu của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam  và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là “Đoàn kết toàn dân đánh bại chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh đổ ngụy quyền tay sai của chúng, giải phóng miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc“…

Trong một số tài liệu, sách sử của phương Tây hiện nay, chế độ “Việt Nam Cộng hòa” cũng được sử gia nước ngoài gọi là “chính phủ bù nhìn”, một từ có ý nghĩa tương tự như từ “ngụy“. Theo Nhà báo Arthur J.Dommen, từ “ngụy quyền” xuất hiện sau sự kiện đảo chính ở miền Nam Việt Nam năm 1963 để thay thế cho cụm từ “chế độ Mỹ-Diệm“. Còn theo bộ phim tài liệu của Canada có tên “Cuộc chiến tranh mười ngàn ngày” (kịch bản của Michael Maclear; đọc lời bình Richard Basehart) thì Nguyễn Văn Thiệu đã gián tiếp thừa nhận chính phủ mình là một “ngụy quyền” thông qua những lời nói sau: “Họ chẳng đếm xỉa gì đến tôi“; “Họ đã bán đứng chúng tôi cho cộng sản“; “Họ đứng trên đầu trên cổ chúng tôi“; “Tôi là một nghị gật, nếu không phải là một tổng thống bù nhìn”; “tôi đành phải đồng ý với tất cả mọi điều và tôi phải chấp nhận một điều mà người Mỹ muốn áp đặt cho nhân dân nước tôi…”. Còn phó tổng thống ngụy Nguyễn Cao Kỳ thì thừa nhận : “Trong suốt cuộc chiến, người Mỹ đã tự mình điều khiển chiến tranh mà không tham khảo ý kiến của chúng tôi. Thật là nực cười và cũng rất là bi đát đối với chúng tôi khi điều này xẩy ra… Việt Cộng gọi chúng tôi là những con rối, những con bù nhìn của người Mỹ, nhưng rồi chính nhân dân Mỹ cũng gọi chúng tôi là những con bù nhìn của Mỹ…”.

Như vậy, “Quốc gia Việt Nam” và “Việt Nam Cộng hòa” là những chính thể do thực dân Pháp và đế quốc Mỹ dựng nên khi xâm lược Việt Nam và là những tổ chức không có chính danh và thực chất chỉ là chính quyền tay sai hoặc chính quyền bù nhìn không hơn không kém… Thế mà các nhà sử học tham gia biên soạn để tái bản bộ “Lịch sử Việt Nam” lại suy nghĩ và nhận thức một cách đơn giản, nông cạn về chữ “ngụy” nên đã “xem nhẹ “một từ” khi mà “một từ” đó làm đảo lộn giá trị lịch sử, biến chánh thành tà…” như tác giả Minh Tâm đã khẳng định !

Ngàn Thông

CẦN NHÌN NHẬN ĐÚNG VÀ TÔN TRỌNG LỊCH SỬ.


Kỷ niệm 72 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 năm nay, những người biên soạn bộ sách “Lịch sử Việt Nam” (tái bản) dài 15 tập mà đứng đầu là PGS. TS. Trần Đức Cường, đã “chúc mừng” ngày trọng đại này bằng việc tuyên bố từ bỏ cách gọi chính quyền Sài Gòn do thực dân Pháp (1948 – 1954) và đế quốc Mỹ (1954 – 1975) là “ngụy quyền”, từ bỏ cách gọi quân đội tay sai của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là “ngụy quân”. Các sử gia này biện bạch rằng: “Cái chính quyền ngụy ấy, cái quân đội ngụy ấy đã tồn tại như một thực thể”. Nhưng thực thể đó là thực thể gì? Nó do ai tạo ra? Mục đích của những kẻ tạo ra những thực thể ấy là gì? Thực thể ấy vận hành ra sao? Có đại diện cho quyền lợi của toàn thể dân tộc Việt Nam hay không? Thì các vị sử học này không làm sáng tỏ?

Căn cứ các luận cứ khoa học lịch sử cho thấy những nhà sử học này đã dùng “chủ nghĩa duy danh và phép logic hình thức để biện bạch cho hành động sai trái của họ. Chính vì vậy, ngay sau khi những phát ngôn của ông PGS. TS. Trần Đức Cường trên tờ “Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh”, thì từ VOA đến BBC, từ RFA đến “Vietcatholic” và nhiều trang báo điện tử, trang tin tổng hợp chống Nhà nước Việt Nam ở hải ngoại cùng một số phần tử chống đối trong nước đều hoan hỷ, còn những người yêu nước Việt Nam chân chính thì cảm thấy bị xúc phạm.

Xin ngược dòng lịch sử và nhận diện:

Trước hết phải hiểu rằng: Ngụy tức là giả. Trong chính trị, từ này được dùng để chỉ một triều đình hoặc chính quyền do soán đoạt mà có, hoặc do quân xâm lược dựng lên để hợp thức hóa sự xâm lược, đô hộ và phục vụ cho sự đô hộ, xâm lược đó. Còn bản thân chính quyền đó không có thực quyền, thực lực, hữu danh vô thực, không đủ tiêu chuẩn, phẩm chất của một chính quyền hay triều đình đúng nghĩa, mang tính chất bất hợp pháp và không chính danh.

Trong chiến tranh Việt – Pháp (1945-1954), năm 1949, Pháp dựng lên “Quốc gia Việt Nam” qua cái gọi là “Hiệp định Elysée”, hiệp định ngụy tạo sự độc lập cho Việt Nam và đưa Bảo Đại lên đứng đầu. Đây là thủ đoạn “da vàng” hóa chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt, theo công thức: Viện trợ Mỹ + Quân viễn chinh Pháp + Quân bản xứ. Mặc dù về danh nghĩa là chính phủ “Quốc gia Việt Nam” nhưng trên thực tế, thực dân Pháp nắm tất cả các quyền về chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, tài chính… “Quân đội Quốc gia” được xây dựng từ những con cháu lính khố xanh, khố đỏ của Pháp và triều Nguyễn, bao gồm cả Binh đoàn Bộ binh Bắc Kỳ và lính Lê Dương người Việt do các sĩ quan Pháp chỉ huy. Quân sự, tài chính, thuế quan, xuất nhập cảnh… và các cơ quan chức năng đều do người Pháp quản lý. Kinh tế, nguồn cung tài chính và ngụy quân đều do Pháp trực tiếp điều hành.

Khi trả lời phỏng vấn của Dân quốc Nhật báo (Trung Hoa Dân Quốc) ngày 3/4/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Đối với nhân dân Việt Nam, Hiệp định đó(Hiệp định Elysée) chỉ là một tờ giấy lộn. Thứ thống nhất và độc lập giả hiệu ấy chẳng lừa bịp được ai. Ngay nhân dân Pháp và dư luận thế giới cũng đã hiểu rõ và tố cáo điều đó. Lúc nào quân đội thực dân Pháp hoàn toàn rút khỏi đất nước Việt Nam, thì mới có thống nhất và độc lập.

Năm 1954, sau thất bại thảm hại tại Điện Biên Phủ, Pháp buộc phải ngồi vào bàn đàm phán ký hiệp định Giơ-ne-vơ, rút quân về nước. Mỹ từ một nước đồng minh viện trợ cho Pháp trong cuộc chiến tại Việt Nam đã chính thức nhảy vào thay chân Pháp xâm lược Việt Nam. Để thực hiện âm mưu xâm lược của mình, năm 1955, Mỹ chọn “thủ tướng” Ngô Đình Diệm của chính phủ “Quốc gia Việt Nam” tay sai Pháp, đưa lên làm làm “tổng thống” với tên mới là “Việt Nam Cộng hòa”. Như vậy, “Việt Nam Cộng hòa” tuy là tay sai bù nhìn của Mỹ, phục vụ cho Mỹ, nhưng đầu tiên do thực dân Pháp dựng lên năm 1949 trong lúc họ đang xâm lược Việt Nam nhằm chiếm lại thuộc địa.

Ngụy quyền Sài Gòn là bọn tay sai tàn ác, gây rất nhiều tội ác với nhân dân, chứ không phải là ngụy quyền bù nhìn kiểu ngây ngô chính trị, bị lợi dụng nhưng không gây tội ác, như “Đế quốc Việt Nam” (chính quyền Trần Trọng Kim). Như vậy chính quyền Sài Gòn là một ngụy quyền, quân đội Sài Gòn là ngụy quân, là những kẻ do Pháp dựng lên và sau đó được Mỹ nuôi tiếp, để phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược của họ.

Trong bản Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1959, tại Điều 7 còn ghi rõ: “Nhà nước nghiêm cấm và trừng trị mọi hành động phản quốc, chống lại chế độ dân chủ nhân dân, chống lại sự nghiệp thống nhất Tổ quốc.” Như vậy, ngụy quyền và ngụy quân Sài Gòn về bản chất còn là một nhóm phản quốc có tổ chức, vi phạm Hiến pháp Việt Nam 1959 về tội phản bội Tổ quốc. Theo luật này thì những thành phần trên đã phạm tội chống Nhà nước, một Nhà nước Việt Nam do dân bầu ra. Chúng là một tổ chức nằm ngoài vòng pháp luật, không được nhân dân Việt Nam bầu chọn. Chính vì vậy, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nhân dân Việt Nam chưa bao giờ công nhận đó là chính phủ hợp pháp, chưa bao giờ coi vùng mà ngoại bang xâm chiếm là “Quốc gia” và lẽ đương nhiên, những người trong cái gọi là chính phủ quốc gia Việt Nam không thể và không bao giờ có tư cách để ngồi đàm phán. Trong Hội nghị Paris về Việt Nam (1968-1973), Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ đàm phán với Mỹ. Hiệp định đình chiến Giơ-ne-vơ được ký ngày 20/7/1954 cũng chỉ ký giữa đại diện quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đại diện quân đội Pháp. Ngay cả trong tuyên bố chung của Hội nghị cũng không hề có chữ ký nào của dại diện cái gọi là Quốc gia Việt Nam. Xin nói thêm rằng, các điều khoản trong Hiệp định cũng xác định rằng vĩ tuyến 17 và sông Bến Hải, chỉ là giới tuyến tạm thời trong khi chờ Tổng tuyển cử 2 năm sau đó, chứ không hề có một từ ngữ nào nói rằng Việt Nam chia đôi hai miền. Nam, Bắc là hai quốc gia độc lập, chủ quyền riêng biệt. Hiệp định Paris 1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam cũng được ký tắt giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ ngày 23/1/1973 rồi mới ký 4 bên ngày 27/1/1973. Ở đây, xin mở ngoặt nói rõ rằng: Gọi là ký tắt nhưng đó là sự thỏa thuận chủ yếu giữa hai bên tham chiến. Còn ngụy quyền Sài Gòn chỉ là một thành phần chính trị gần ngang bằng với Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, như một phe phái được phép tham gia tranh cử với các lực lượng chính trị khác.

Từ những chứng cứ lịch sử trên có thể thấy rằng: Chính quyền do thực dân Pháp dựng lên (sau này là Mỹ) trong lúc đã tồn tại Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do dân bầu ra, nên chính quyền đó hoàn toàn bất hợp pháp, không chính danh. Vì vậy, gọi là “ngụy”, tức là giả để phân biệt với các quốc gia chính danh, hợp pháp khác.

Cái gọi là “Quốc gia Việt Nam” và “Việt Nam Cộng hòa”, trên thực tế không hiện hữu đúng nghĩa hay nói cách khác đó chỉ là một vùng địa lý bao gồm vùng giải phóng của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và các căn cứ quân sự lớn, các khu vực thuộc địa kiểu mới của Mỹ trong vùng tạm chiếm; là nơi sinh hoạt của khoảng 6 triệu người Mỹ cùng hơn 60 vạn quân Mỹ và chư hầu của Mỹ.

Tiến sĩ James Carter, Giáo sư sử học tại Đại học Drew (Mỹ), trong cuốn sách “Inventing Vietnam: The United States and State Building, 1954-1968” (Quá trình sản sinh ra Nam Việt Nam: Hoa Kỳ và quá trình xây dựng nhà nước, 1954-1968), do NXB Đại học Cambridge (Anh) xuất bản năm 2008, đã ghi rõ:

“Chính thể Sài Gòn không thể tự nuôi nổi chính mình; thậm chí không thu đủ lợi tức cho hoạt động hàng ngày. Họ phải phụ thuộc vào viện trợ Mỹ.” và “Từ trước đó, giới chức đã thôi nói về xây dựng quốc gia, cải cách điền địa, dân chủ, minh bạch. Thay vào đó, họ bàn về một cuộc chiến phải thắng trước những kẻ thù của nhà nước hư cấu “Nam Việt Nam” (Fictive State). Quỹ đạo này của chính sách Mỹ khiến người ta gần như không thể nói thật về những thành công, thất bại, đặc biệt là với các nhà hoạch định chính sách. Chưa bao giờ Mỹ đạt tới điểm bước ngoặt mà ở điểm đó, “chính thể Sài Gòn” có thể tự mình tồn tại mà không nhờ vào viện trợ Mỹ. Như vậy cái gọi là “quốc gia” này không phải là một quốc gia đúng nghĩa, chưa bao giờ hội đủ các đặc điểm, thực lực, giá trị, căn cước của một quốc gia thật sự, một quốc gia có đầy đủ chủ quyền, có đủ thực quyền độc lập về chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa”.

Vì các lẽ trên, yêu cầu các nhà sử học tham gia biên soạn bộ “Lịch sử Việt Nam” (tái bản) cần phải tôn trọng sự thật, tôn trọng lịch sử. Ở đây, xin nhấn mạnh rằng: Nếu bỏ tên gọi “ngụy quân, ngụy quyền” Sài Gòn, thì cũng có nghĩa là ta công nhận chính danh cho một chính thể ngụy tạo bởi ngoại xâm; nguy hiểm hơn, điều đó đồng nghĩa với sự phủ nhận cuộc chiến chính nghĩa của dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng thống nhất đất nước; vô hình chung biến cuộc chiến tranh chính nghĩa thành cuộc chiến tranh xâm lược và Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trở thành một tổ chức khủng bố không hơn không kém.

Không được đơn giản hóa, xem nhẹ “một từ” khi mà “một từ” đó làm đảo lộn giá trị lịch sử, biến chánh thành tà; tạo đà, tạo cơ hội cho bọn phản động và đám người “xét lại” chống phá Đảng, phá hoại sự nghiệp cách mạng.

Minh Tâm

TRỊNH XUÂN THANH ĐẦU THÚ VÀ SỰ NÁO LOẠN THÔNG TIN


Kể từ khi Trịnh Xuân Thanh ra đầu thú tại Cơ quan An ninh điều tra – Bộ Công an ngày 31/7/2017 được chính thức loan tin trên phương tiện thông tin đại chúng, thì thông tin này đã làm dậy sóng các trang mạng xã hội với vô vàn thông tin thực thực hư hư. BBC tiếng Việt lập tức thực hiện ngay cuộc đối thoại bàn tròn với các nhà báo dỏm, luật sư không hàm, thao thao về thông tin thêu dệt cùng những dự đoán mù mịt về tương lai trong quan hệ ngoại giao giữa Cộng sản Việt Nam (VN) và Đức. Các thế lực thù địch trong nước cấu kết với phản  động người Việt nước ngoài lợi dụng sự kiện trên để xiên xỏ, chửi rủa lãnh đạo Đảng, Nhà nước trình độ thấp kém, chơi kiểu luật rừng, làm phương hại đến ngoại giao, tổn hại đến lợi ích kinh tế của đất nước. Chúng tung ra không ít luồng thông tin không xác thực bắt đầu từ phát ngôn của Bộ Ngoại giao Đức rồi để kết luận rằng cơ quan An ninh VN đã bắt cóc Trịnh Xuân Thanh tại thủ đô Berlin rồi đưa về nước.

 

Đáng tiếc cho phát ngôn của Người phát ngôn CHLB Đức.

Nói về phát ngôn của Bộ Ngoại giao Đức, Tiến sĩ, Luật sư Trần Đình Triển cho rằng: Đó là phát ngôn thiếu thận trọng, vội vàng, chưa phù hợp nguyên tắc các Công ước quốc tế mà VN và CHLB Đức đã tham gia ký kết”, Luật sư Triển nói rõ: “Trước hết phía Đức phải công nhận Trịnh Xuân Thanh đã bị VN khởi tố và có lệnh truy nã quốc tế về các tội tham nhũng, rửa tiền; Trịnh Xuân Thanh không thuộc diện để áp dụng giải quyết cư trú chính trị”. Trịnh Xuân Thanh có đơn xin cư trú nhưng chưa được nhà nước Đức cho phép thì nơi cư trú của Trịnh Xuân Thanh đương nhiên vẫn ở VN; VN và Đức đều là thành viên của Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế (Interpol), thông qua tổ chức này, VN đã phát lệnh truy nã quốc tế đối với Trịnh Xuân Thanh, thì đương nhiên Cảnh sát Đức có trách nhiệm phối hợp với Cảnh sát quốc tế và Cảnh sát VN thực hiện lệnh truy nã đó. Nói về chống tham nhũng theo Công ước quốc tế (2003), Đức là thành viên, VN cũng là thành viên; những điều khoản trong Công ước này quy định rõ trách nhiệm của các nước thành viên phối hợp và tạo điều kiện cho nhau cùng thực hiện chống tham nhũng. Trịnh Xuân Thanh là tội phạm tham nhũng thì Đức phải có trách nhiệm tạo điều kiện cho VN xử lý Trịnh Xuân Thanh. Tiến sĩ, Luật sư Trần Đình Triển nói thêm rằng: Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Công ước Palermo). VN đã khởi tố vụ án tham nhũng có tổ chức mà Trịnh Xuân Thanh là 1 đối tượng. Căn cứ vào Công ước này, đáng lẽ nhà nước Đức phải giúp đỡ VN điều tra xem số tiền mà nhóm đối tượng này tham nhũng có được biến tướng qua tiền gửi ngân hàng, mua bất động sản, đầu tư,… tại Đức để giúp VN xử lý; Nhóm các nước G7 (Đức là thành viên) là tổ chức đầu tiên kiến nghị cần có cam kết chung toàn cầu về đấu tranh chống rửa tiền, VN là thành viên của nhóm Châu Á Thái Bình Dương về phòng chống rửa tiền. Như vậy, nhà nước Đức không thể đứng ngoài cuộc trong vụ Trịnh Xuân Thanh khi ông ta trốn tại Đức. Tổ chức minh bạch quốc tế – TI, trụ sở tại Berlin – Đức, có chi nhánh hơn 100 nước trên thế giới và có chi nhánh tại Hà Nội (Hướng tới minh bạch) với tiêu chí là hợp tác, đánh giá, xếp hạng, khuyến cáo,… về chống tham nhũng. Lẽ nào nhà nước Đức lại làm ngơ trước cam kết của tổ chức này? Trịnh Xuân Thanh đang là công dân Nước CHXHCN Việt Nam thì ông ta phải chấp hành luật pháp VN và được pháp luật VN bảo hộ. Nếu căn cứ Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị; thì cá nhân Trịnh Xuân Thanh có quyền về VN đầu thú, không ai có quyền can thiệp vào ý nguyện hợp pháp đó. Chính vì vậy mà phát ngôn của Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam đã lấy làm tiếc về sự thiếu chuẩn trong phát ngôn của người đồng cấp Bộ Ngoại giao CHLB Đức.

 

Sự rối loạn thông tin.

Xuất phát từ những nguồn tin chưa được kiểm chứng, trang mạng “Thời báo”, chuyên mục “Người Việt tại Đức” của một tổ chức chống VN tại Đức đã tung ra thông tin rằng các nhân viên an ninh VN đã bắt cóc Trịnh Xuân Thanh ngay giữa thanh thiên bạch nhật ở Berlin rồi đưa qua Ba Lan và Belarus, sau đó bay về VN. Đáng lưu ý thông tin mà chúng đưa ra tiền hậu bất nhất, có lúc thì nói rằng Trịnh Xuân Thanh bị bắt cóc ngay chỗ trọ; nhưng có lúc thì nói ông Thanh bị bắt cóc tại công viên. Mặc dù không có chứng cứ đáng tin cậy nhưng người phát ngôn Bộ Ngoại giao Đức vẫn tuyên bố rằng An ninh VN tổ chức bắt cóc Trịnh Xuân Thanh. Ngay sau đó, trên các trang mạng của những phần tử thù địch đã vội vàng loan tin rằng cơ quan An ninh VN “bắt cóc” Trịnh Xuân Thanh tại Đức với hàng loạt tình tiết được thêu dệt, suy đoán ly kỳ rồi quy kết VN vi phạm Công pháp quốc tế, làm tổn hại đến uy tín đất nước, giảm sút niềm tin trong công tác đối ngoại và đặc biệt là ảnh hưởng tồi tệ đến sự bang giao giữa VN với CHLB Đức và khối EU. Chúng cố tình lờ đi chuyện Trịnh Xuân Thanh đang là tội phạm bị truy nã quốc tế, một “nhân vật đặc biệt” mà trong 300 ngày qua dư luận trong nhân dân VN chưa bao giờ hết nóng.

 

Lời kết

Mặc dù người phát ngôn Bộ Ngoại giao CHLB Đức khẳng định rằng việc bắt cóc Trịnh Xuân Thanh trên đất Đức có những bằng chứng không nghi ngờ và yêu cầu VN phải đưa Trịnh Xuân Thanh trở lại Đức ngay lập tức, để hồ sơ đề nghị dẫn độ và đơn xin tị nạn được xem xét theo đúng trình tự pháp lý. Tuy nhiên, điều đáng nói là phía Đức không thể đưa ra bằng chứng thuyết phục nào để chứng minh rằng Cơ quan An ninh VN đã “bắt cóc” Trịnh Xuân Thanh tại Đức. Còn VN, bằng chứng không thể thuyết phục hơn khi hình ảnh Trịnh Xuân Thanh với lá đơn tự thú (trường hợp này nên dùng từ đầu thú thì mới đúng) tại cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an VN đã được công khai rộng rãi trên sóng truyền hình VTV có độ phủ sóng không chỉ ở VN. Trong đơn xin đầu thú, ông Trịnh Xuân Thanh có viết: “Tôi thấy lo sợ trước kết luận về vi phạm của tôi và phải chịu trách nhiệm là người đứng đầu trong thua lỗ của PVC. Do lo sợ, suy nghĩ không hết, tôi đã quyết định trốn tại Đức.

Trong thời gian này cuộc sống trốn tránh, bấp bênh luôn lo sợ. Được sự động viên của gia đình, bạn bè, tôi đã về Việt Nam và ra đầu thú tại cơ quan an ninh điều tra để được hưởng sự khoan hồng của Đảng, Nhà nước và pháp luật”.

Và khi trả lời VTV1, ông Thanh nói: “Trong quá trình trốn chạy, mình cứ nghĩ về việc mình làm, thời điểm đó rất nông nổi, suy nghĩ không chín chắn, quyết định đi trốn. Trong quá trình như thế, mình thấy rằng mình cần phải về để đối diện với sự thật. Cái thứ hai nữa là mình về mình ngẫm lại, nhận thức được, báo cáo nhận khuyết điểm, xin lỗi. Gia đình đã động viên mình xin tự thú tại công an”.

Hiện tại, hầu hết người dân VN không cần biết Trịnh Xuân Thanh về đầu thú bằng cách nào, quan trọng nhất chính lòng dân hoan hỷ và cuộc chiến chống giặc nội xâm (tham nhũng) đến hồi “lò đã nóng” như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

 

HÀ SĨ PHU LẠI “BÒ NHAI RƠM” CỔ XÚY “BỎ ĐẢNG”


Ngày 26/7/2017, trên blog Doithoai phát tán bài viết của Hà Sĩ Phu (tức Nguyễn Xuân Tụ) với dụng ý phản bác Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam và thể chế chính trị nước ta, phủ nhận thành quả của cách mạng Việt Nam; xuyên tạc, bôi nhọ lãnh tụ… Luận điệu của Hà Sĩ Phu không có gì mới, vẫn chỉ là chuyện “bò nhai rơm”; song, trong bài viết này, tác giả cố ý xuyên tạc về bản chất Đảng, cổ súy “bỏ Đảng”.

 

Mở đầu bài viết, Hà Sĩ Phu (HSP) nêu câu chuyện với cách nói dối… dở ẹc; rằng có một cụ già 92 tuổi từ Hà Nội vào Đà Lạt du lịch tìm đến thăm ông. (Chắc HSP quá “nổi tiếng” nên vị khách chẳng quen biết đã mò mẫm đường xa tới thăm !). HSP bảo cụ già là đảng viên đã tự ý bỏ Đảng, song “chủ nhà” lại nói cái câu mà đứa trẻ nít cũng thấy vô lý đùng đùng là cụ già vào Đảng “Có lẽ cũng từ tiền khởi nghĩa” (?!)… Nói toẹt ra, ông đã bịa chuyện, tạo cái cớ để “nhập chuyện” biểu lộ dã tâm xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, bôi nhọ, nói xấu Bác Hồ !

Vẫn luận điệu cũ mèm, HSP tiếp tục xuyên tạc, phủ nhận, phản bác Chủ nghĩa Mác-Lênin; ông ta cho rằng “ảo tưởng, phi lý, phi dân chủ và phản tiến hóa”; Chủ nghĩa Mác – Lênin “như một cô gái đẹp nhưng ngớ ngẩn…”. Trong khi cả thế giới từ bỏ Chủ nghĩa Mác-Lê thì CSVN lại “tôn thờ”, khi “bị thế giới bóc trần” thì CSVN “cố thủ trước cơn bão táp sụp đổ của CS toàn thế giới và làn sóng dân chủ hóa đất nước… đảng giảm nhẹ dần Mác-Lê để rút về với Bác Hồ”. Từ đó, HSP bình luận: “những đảng viên thức thời nhất đã bỏ phắt cái đuôi Mác-Lê để cứu HCM và cũng để cứu mình khỏi chết chìm với con tàu CS thế giới…”. Ông ta xuyên tạc “HCM chỉ là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không phải người Cộng sản, chỉ dùng CS làm phương tiện”…

Xàm ngôn vậy mà HSP nào hay bất cứ người Việt Nam yêu nước nào cũng đều am hiểu, trong quá trình đi tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin; mang ánh sáng chủ Chủ nghĩa Mác- Lênin vận dụng vào điều kiện thực tế của cách mạng Việt Nam để lãnh đạo nhân dân đấu tranh đánh đuổi đế quốc xâm lược giành lại hòa bình, độc lập cho dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Cộng sản, trở thành một chiến sĩ Cộng sản lỗi lạc trong phong trào công nhân quốc tế đấu tranh cho phong trào dân tộc, dân chủ vì hòa bình trên toàn thế giới.

Bằng tư liệu nào, dẫn chứng gì mà HSP xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải người Cộng sản? Hay “chỉ dùng CS làm phương tiện”? Từ bao giờ Đảng Cộng sản Việt Nam “giảm nhẹ dần Mác-Lê để rút về với Bác Hồ”? Những đảng viên nào “thức thời nhất” đã cắt bỏ Mác-Lê để cứu HCM ? Họ là số ít hay số đông và bản thân có phải là đảng viên mẫu mực không, tư tưởng có bị “suy thoái”, “diễn biến” theo chiều hướng tiêu cực không? Cứu Hồ Chí Minh là cứu cái gì? v.v…

Trải qua 87 năm ra đời và lãnh đạo cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trung thành với Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động…”. Thành tựu nổi bật của cách mạng Việt Nam đã minh chứng con đường cứu nước, cứu dân và đưa dân tộc Việt Nam đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội do Chủ tịch Hồ Chi Minh và Đảng ta lãnh đạo dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin đã khẳng định là sáng suốt, đúng đắn! Cớ chi HSP lại xảo trá đổi trắng thay đen, phủ nhận phi lý vậy? Rõ ràng đây là luận điệu của kẻ phản động !

Phẩm chất của con người Việt Nam bao đời nay là thủy chung sau trước. Được sống trong hòa bình, tự do và hạnh phúc hôm nay, không ai nỡ phụ lòng, bội bạc những mất mát, hy sinh của bao lớp tiền nhân có công khai quốc. Bác Hồ đã dạy “Hiểu chủ nghĩa Mác- Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa”; không ai bội bạc, miệng lưỡi độc địa của loài rắn độc như HSP !!!

Từ phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, HSP tiến tới xuyên tạc thành quả của cách mạng Việt Nam, bôi nhọ Bác Hồ. Ông ta cho rằng “HCM đã bị cái ảo tưởng “thế giới đại đồng” của CS che mắt nên không nhìn ra kẻ thù…”. Phản động nhất và cũng hết sức trâng tráo khi ông ta nói: “Chọn con đường Cộng sản để cứu nước và phát triển đất nước là sai lầm” (?).

Xuất phát từ tư tưởng cực đoan, chống đối cố hữu, HSP ra sức xuyên tạc “Việt Nam đi sai quy luật, phản khoa học nên xã hội không phát triển được”; Đảng CSVN độc quyền toàn trị; “do những ràng buộc của cá nhân HCM…” (HSP từng xuyên tạc Đảng CSVN ra đời trên đất Trung Quốc, Bác Hồ là con hoang của TQ) nên Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam dần dần bán đất, bán đảo, bán nước cho Tàu, lệ thuộc Trung Cộng… Từ đó, “đóng vai” một nhà “hiền triết”, “gàn sĩ” đưa ra “triết lý” hết sức phản động “Muốn Thoát Trung phải Thoát Cộng, muốn Thoát Cộng phải Thoát Hồ” (!).

Với “triết lý phản động” đó, HSP tích cực cổ xúy, hô hào “Thoát Cộng”, xúi dục, tác động, lôi kéo những “đảng viên lưng chừng” mà ông ta cho là “thức thời nhất” từ bỏ Đảng, quay lưng chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam; nỗ lực kêu gọi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”; đòi đổi tên Đảng, đổi tên nước…. Theo lý luận của HSP, tham gia trong Đảng là vô tình “Cõng rắn cắn gà nhà” hay “Rước rắn vào nhà”? Xảo ngôn tráo trở này đã xúc phạm đến danh dự gần 5 triệu đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam trong cả nước, những “Chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao độngdân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân…”.

 HSP nên nhớ không có người Việt Nam yêu nước nào, không có loại đảng viên “thức thời nhất” nào từ bỏ Đảng, đánh đổi lý tưởng cao cả của đời mình một cách dễ dàng như những lời trâng tráo, xuyên tạc, phản động như kiểu ông nói đâu!

HSP tự nhận “Tôi không phải là đảng viên Cộng sản”. Tuy nhiên, giá như ông có cái tâm của một công dân trung thực; được tiếp xúc với những đảng viên chân chính; đằng này, số người ông giao du (nào là Trần Độ, Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính, Lê Hiếu Đằng…) đều là những đảng viên tha hóa, cực đoan về chính trị, có tư tưởng phản động, thậm chí có người đã quay lưng phản bội Tổ quốc. Bởi vậy, đã không hiểu biết gì về Đảng lại bị tiêm nhiễm tư tưởng cực đoan, thù địch, chống đối thì làm sao ông không “ngưu tầm ngưu” trở thành một giuộc; trở thành kẻ phản bội đất nước, phản bội dân tộc Việt Nam?!

Trong khi cả dân tộc Việt Nam hy sinh tất cả máu xương, của cải trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, HSP chễm chệ trên ghế giảng đường; nhận bổng lộc của Nhà nước để du học nước ngoài lấy bằng học vị (Phó TS lúc đó). Ông có công cán gì trong cuộc đổ máu của cả dân tộc để có ngày hôm nay? Ông và gia đình ông đang thở khí trời nào? Được hưởng lợi từ đâu, bằng xương máu của ai? Sao ông không mảy may do dự, không biết xấu hổ lại buông lời dối trá, xằng bậy, đả phá chế độ này ???…

Đã gần 80 tuổi rồi, nghĩa là đã “thọt một chân xuống huyệt” sao ông không tận hưởng vãn cảnh yên lành với con cháu, làm những việc phúc đức để con cháu không phải hổ thẹn với đời, lu loa chi những xảo ngôn tráo trở lúc tàn hơi để người đời căm ghét ? Nếu thật có lòng “nặng nước non”, HSP nên im mồm lại !!!

Chính Tâm

“NGƯỜI CHẾT ĐỂ TIẾNG”, THÔI ĐỪNG VÔ TÂM, VÔ NGHĨA NỮA


      Kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh – Liệt sỹ (27/7/1947 – 27/7/2017), trong mỗi người Việt Nam dâng trào nhiều cảm xúc tự hào trước sự chiến đấu và hy sinh to lớn của cả một dân tộc anh hùng! Song, cũng thật buồn, thêm giận trước những việc làm của những kẻ còn lạc lối..!

 

Trước hết, không tự hào làm sao được khi qua những cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm trong thế kỷ 20 và cả trong hòa bình sau 30/4/1975, cả nước ta đã có khoảng 9 triệu người có công với cách mạng. Trong đó, gần 1,2 triệu liệt sỹ và gần 500 ngàn thân nhân liệt sỹ, trên 117.000 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, gần 600.000 thương binh và người hưởng chính sách như thương binh, gần 111.000 người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày…

Với truyền thống và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, các cấp ủy đảng, các cấp chính quyền và toàn dân đã tích cực triển khai và thực hiện có hiệu quả các phong trào chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công bằng những việc làm thiết thực. Từ năm 2007 đến năm 2017, cả nước đã đóng góp xây dựng hơn 3.481 tỷ đồng vào Quỹ “Đền ơn, đáp nghĩa”; xây dựng gần 90.000 nhà tình nghĩa, sửa chữa gần 75.000 nhà tình nghĩa với tổng trị giá gần 12.200 tỷ đồng; tặng gần 159.000 sổ tiết kiệm tình nghĩa trị giá gần 955.000 tỷ đồng… Chính phủ đã cấp cho các địa phương trên 2.450 tỷ đồng để hỗ trợ cho 80.000 hộ gia đình người có công khó khăn về nhà ở; 100% các mẹ Việt Nam anh hùng được các đơn vị nhận phụng dưỡng; 98% xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sỹ… Và kết quả đáng nói là 97% người có công với cách mạng đã có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống người dân nơi cư trú…

Bên cạnh đó, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế trong việc tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sỹ và đã tìm kiếm, quy tập được 939.462 hài cốt liệt sỹ; an táng tại 3.077 Nghĩa trang trong cả nước. Việc xây dựng, tu bổ nghĩa trang liệt sỹ, công trình tưởng niệm liệt sỹ được các cấp, các ngành chú trọng và hiện cả nước có 9.637 công trình ghi công Liệt sỹ…

Trong niềm tự hào chung ấy thì cũng còn những trăn trở, suy nghĩ khi được biết theo kết quả rà soát thực hiện chính sách ưu đãi người có công năm 2014 và 2015, hiện còn 28.500 trường hợp kê khai là người có công chưa được hưởng chính sách ưu đãi của Đảng, Nhà nước; trong số đó có 5.900 hồ sơ đã kê khai đề nghị công nhận là liệt sĩ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh… Đây là những việc cần tích cực giải quyết trong thời gian tới…

Và cũng có nỗi đau nào hơn khi đất nước đã 42 năm hòa bình mà những người mẹ, những người vợ, người con… vẫn còn đau đáu trong lòng một niềm mong ước là sớm tìm được hài cốt của những người thân đã hy sinh trong chiến đấu để được an táng, có mộ phần để gia đình có thể lui tới thăm viếng, thắp những nén nhang tưởng nhớ nhân những ngày lễ, Tết!

Thế nhưng, trong niềm cảm xúc vô cùng to lớn ấy của tất cả những người yêu nước thương nòi thì lại có những kẻ vô tâm, vô nghĩa đang từng ngày, từng giờ tìm cách nói xấu, tìm cách xuyên tạc cả một sự nghiệp cách mạng của Dân tộc Việt Nam vĩ đại…

Họ là ai? Nếu như Hà Sỹ Phu là người chỉ biết đi học trong nước và ngoài nước và chẳng hề tham gia gì thì không nói làm gì; đằng này Bùi Minh Quốc, Mai Thái Lĩnh và một vài người trong cái gọi là “Nhóm thân hữu Đà Lạt” trước đây và cái gọi là “Câu lạc bộ Phan Tây Hồ” hiện nay đã từng tham gia chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ; lại có người thân trong gia đình là liệt sỹ hoặc bản thân họ cũng đóng góp một phần xương máu vào cuộc chiến đấu thần thánh của dân tộc nhưng họ không chịu nhớ, không muốn biết khi tham gia vào các hoạt động chống đối lại cả 90 triệu người Việt Nam trong nước và hàng triệu người Việt Nam ở nước ngoài đang nỗ lực phấn đấu để xây dựng một đất nước còn nhiều nỗi đau sau bao nhiêu năm chiến tranh, mất mát… Họ có biết chăng dù còn nhiều khó khăn trong cuộc sống do mất mát người thân, do thương tật trong chiến tranh nhưng nhiều thương binh, bệnh binh, nhiều gia đình chính sách và nhiều người có công với cách mạng đã và đang nỗ lực vượt qua và phấn đấu trở thành những tấm gương tiêu biểu, những điển hình và những nhân tố mới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội…

Cố tình không nhìn vào sự thật, họ tìm mọi cách để liên lạc với các phóng viên của các báo đài phản động để được gọi là “trả lời phỏng vấn” hoặc tự viết bài đăng trên các blog xấu nhằm loan truyền những điều bịa đặt, những suy nghĩ trái chiều… Ai cũng có thể hiểu được là họ đang “đánh bóng” tên tuổi của mình một cách ngược đời và thật ra họ cũng chỉ là “những con rối” đang được điều khiển bởi các bàn tay nhơ bẩn đâu đó… Cũng có nhiều người thắc mắc là phải chăng họ làm như vậy để được hưởng lợi lộc gì khác không? Câu hỏi có nguyên do bởi vì đã có những kẻ từng làm như vậy mà điển hình là mới đây Nguyễn Văn Hóa sinh năm 1995, trú tại xã Kỳ Khang, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh sau khi bị khởi tố và bắt tạm giam 3 tháng về tội “Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, công dân” theo Điều 258 Bộ luật hình sự thì chính đối tượng này bước đầu đã khai nhận ký hợp đồng với một số đài, trang mạng nước ngoài với mức 1.500 USD/tháng để thu thập thông tin, viết bài chống lại Nhà nước và nhân dân Việt Nam… Thế thì họ cũng “cùng một giuộc” thôi, chứ không ai đi làm những việc không công?  Chắc là sau một bài phỏng vấn chi đó, một bài viết nào đó thì họ lại ngửa tay nhận lấy vài tờ đô la bẩn thỉu mà thế lực phản động “bố thí” cho những kẻ làm thuê, cho những tên tay sai của chúng!

Và cũng từ những việc làm như thế, những bài viết như thế, những câu trả lời phỏng vấn như thế đã làm hoen ố đi, thậm chí còn làm mất đi hình ảnh của những con người đã có một thời trai trẻ tham gia cống hiến sức mình cùng cả một dân tộc bất khuất, kiên trung trong chiến đấu và hy sinh cho sự nghiệp cách mạng. Hình ảnh một vài người trong số họ có thể được xem là thần tượng của thanh niên khi đã từng viết những bài thơ đầy khí phách hào hùng hoặc khi đã từng nói chuyện cho các bạn trẻ vào những ngày sau giải phóng về cách mạng, về lý tưởng, về cách thức vận động lớp trẻ đi vào những phong trào xung kích… Thế mà nay họ đã “phủ định” bản thân theo hướng tiêu cực bằng chính những việc làm hôm nay để bôi bẩn, thậm chí còn phá nát và làm sụp đổ những hình tượng đáng quý đã có…

Ông bà ta có câu “Hùm chết để da, người ta chết để tiếng”. Không biết những con người lạc lối ấy có bao giờ suy nghĩ rằng đến khi mình qua đời thì những tai tiếng do chính họ tạo nên sẽ được chôn chặt xuống nấm mồ với họ hay là sẽ đi theo con cháu họ đời đời kiếp kiếp hay không? Đó chính là câu hỏi đang chờ chính họ suy ngẫm và trả lời!

                                                                                                            Ngàn Thông

Lại một kiểu “Rắc cát vào những cỗ máy lớn”


Gần đây, trên blog Danlambao phát tán bài trả lời của Mai Thái Lĩnh với phóng viên Trần Quang Thành về mục đích việc thành lập“Câu lạc bộ Phan Tây Hồ”. Điều mà các vị này tâm đắc thực chất là “cái cớ” để họ tuyên truyền quan điểm đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thắng lợi lịch sử có tính quốc tế của nhân dân Việt Nam trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược đã được loài người tiến bộ, các tổ chức lớn như Liên hợp quốc, UNESCO xác nhận, tôn vinh, ca ngợi…

 

Mọi người điều biết, đảng là một tổ chức chính trị của những người tự nguyện cùng chung một chí hướng đấu tranh cho lợi ích của một giai cấp hoặc tầng lớp nhất định. Trong xã hội có nhiều giai cấp và tầng lớp, có thể có một đảng hoặc nhiều đảng; trong đó có đảng cầm quyền, có đảng không cầm quyền. Tùy theo điều kiện và tương quan lực lượng cụ thể ở mỗi nước mỗi lúc có thể do một đảng hoặc một số đảng liên minh với nhau cầm quyền. Trong quá trình cầm quyền của Đảng Cộng sản, việc tồn tại một đảng hay nhiều đảng ở mỗi nước là do những điều kiện lịch sử cụ thể quy định, không có khuôn mẫu chung cho tất cả các nước.

Ở Việt Nam từ giữa những năm 1947 đến năm 1988, ngoài Đảng Cộng sản lãnh đạo chính quyền còn có hai đảng: Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng xã hội Việt Nam tham gia chính quyền, nhưng hai đảng trên thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ tháng 11 năm 1988 đến nay, trên chính trường Việt Nam chỉ còn lại duy nhất một đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam. Ở Cuba, Lào cũng chỉ có một đảng cầm quyền. Ở Trung Quốc, ngoài Đảng Cộng sản là đảng cầm quyền, còn tám đảng phái dân chủ khác, nhưng vẫn chấp nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc,v.v… Vấn đề chủ yếu đối với một Đảng Cộng sản cầm quyền là cầm quyền một cách khoa học, dân chủ và theo pháp luật trên cơ sở giữ vững sự trong sạch, vững mạnh của các tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên và quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân.

Ở Việt Nam, từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam thực tế là Đảng cầm quyền. Điều này không phải tự nhiên mà có; đây là thành quả của bao năm đấu tranh cách mạng của toàn Đảng, toàn dân Việt Nam, trong đó có sự đóng góp của một vài người trong nhóm, câu lạc bộ của các ông đấy. Được thành lập 1930, phải 15 năm sau, trải qua bao mất mát, hy sinh, thử thách cam go, hàng loạt cán bộ, đảng viên, trong đó có những nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng đã hy sinh, Đảng Cộng sản Việt Nam mới giành được chính quyền. Rồi tiếp sau đó, ròng rã suốt 30 năm kháng chiến đầy gian khổ và kiên cường, Việt Nam mới giải phóng được toàn bộ đất nước, giang sơn thu về một mối và Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền trong cả nước thống nhất. Những thành quả vĩ đại mà nhân dân Việt Nam đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng, chứng tỏ ở Việt Nam chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có khả năng lãnh đạo nhân dân xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Vậy mà trong trả lời phỏng vấn, ông ta vô cảm và trâng tráo nói: “Nếu soi vào tình hình thực tế, nhiều người khoe là ta đánh Pháp, đánh Mỹ. Đánh Pháp, đánh Mỹ để làm gì? Đánh Pháp đánh Mỹ ta lại dựa vào viện trợ của nước khác (của Liên Xô, của Trung Quốc) và bây giờ, mình chỉ là con ngựa, chỉ thay người cỡi”. Đây không phải là “phát kiến” riêng của ông ta đâu, chẳng qua là “nhai lại” của những kẻ “trở cờ” mà thôi. Đây là ý kiến của những kẻ cố tình đi ngược dòng lịch sử và ra sức phủ nhận ý nghĩa, giá trị to lớn của các cuộc kháng chiến chống xâm lược của nhân dân ta. Đây cũng là thể hiện của một tâm thế hằn học, ích kỷ, xuyên tạc gây kích động hận thù dân tộc, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế trong sáng.

Với đạo lý truyền thống của người Việt “Chịu ơn không bao giờ quên, làm ơn không bao giờ kể công”, nhân dân Việt Nam luôn ghi nhớ sự giúp đỡ to lớn và hiệu quả của nhân dân các nước tiến bộ trên thế giới, trong đó có Liên Xô (trước đây) và nhân dân Trung Quốc đối với sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc và thống nhất đất nước cũng như trong công cuộc xây dựng và đổi mới của Việt Nam ngày nay. Mọi người Việt Nam yêu nước có quyền tự hào với thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, trong đó có việc đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ. Vậy mà ông ta lại mỉa mai rằng “nhiều người khoe ta đánh Pháp, đánh Mỹ”. Chiến thắng của chúng ta là chiến thắng của chính nghĩa, của ý chí và nghị lực Việt Nam, của tinh thần “tự lực cánh sinh”, của sức mạnh bên trong-sức mạnh tinh thần Đại đoàn kết dân tộc. Chính kẻ chiến bại là đế quốc Mỹ phải thừa nhận: “Chúng tôi thua Việt Nam vì không hiểu được nền văn hóa Việt Nam”.

Không thể chấp nhận một câu nói của một người ít nhiều có học thức rằng: “Bây giờ người cưỡi trên lưng dân Việt Nam là Trung Hoa cộng sản”. Đó là một kiểu ăn nói “hồ đồ” suy diễn vô căn cứ, thiếu lòng tự tôn dân tộc. Mọi người đều biết, quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống Việt Nam – Trung Quốc được các thế hệ lãnh đạo tiền bối gây dựng và dày công vun đắp là tài sản quý báu của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần được kế thừa và phát huy. Vẫn biết rằng, gần 70 năm qua kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ hai nước có lúc thăng, lúc trầm nhưng hữu nghị và hợp tác là dòng chính. Hơn 10 năm qua, Trung Quốc luôn là bạn hàng thương mại lớn nhất của Việt Nam, còn Việt Nam đã trở thành bạn hàng lớn nhất của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Tình hình biên giới trên bộ và vịnh Bắc Bộ cơ bản ổn định. Tuy nhiên, diễn biến trên Biển Đông vẫn còn phức tạp, nhất là việc Trung Quốc tôn tạo, bồi đắp, xây dựng nhân tạo ở Trường Sa khiến dư luận Việt Nam và cả cộng đồng quốc tế lo ngại. Với cách nhìn nhận đúng đắn và khách quan, chúng ta mong muốn thúc đẩy quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống và quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc phát triển lành mạnh và bền vững vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Với tinh thần độc lập, tự chủ, chúng ta phản đối những nhận thức và phát ngôn lệch lạc gây chia rẽ và kích động mâu thuẫn giữa hai Đảng, hai nhà nước và nhân dân hai nước. Ngay cả Bộ trưởng phụ trách các vấn đề trẻ em và bình đẳng của Na uy S.Home (H.Hône) cũng khẳng định: “phát ngôn thù hận chính là mối đe dọa đối với quyền tự do ngôn luận”. Quốc hội Nhật Bản cũng vừa thông qua luật ngăn chặn phát ngôn thù hận (bao gồm sự bôi nhọ hoặc đe dọa người khác trên mạng xã hội). Việt Nam đã có Nghị định 72/2013/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ nhằm có biện pháp ngăn chặn xử lý kịp thời nạn phát ngôn gây thù hận.

Cũng trong bài trả lời phỏng vấn, một trong những điểm mà ông ta tâm đắc và nhấn mạnh là chủ trương giành độc lập của Cụ Phan Chu Trinh muốn đòi một chế độ tự trị trước rồi mới tiến tới giành độc lập mà giành độc lập lại bằng phương pháp bất bạo động. Đây là vấn đề đáng lẽ không cần bàn cãi nữa vì lịch sử đã sang trang mới, đất nước giành được độc lập rồi, giành độc lập bằng con đường nào đã rõ rồi! Con đường của Cụ Phan Bội Châu dựa vào Nhật đánh Pháp chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Còn Cụ Phan Chu Trinh lại định dựa vào Pháp để canh tân đất nước khác nào “xin giặc rủ lòng thương”. Vì thế, chủ trương giành độc lập của các Cụ không đạt kết quả như mong muốn, thậm chí phong trào yêu nước của các Cụ bị dập tắt. Vượt qua sự hạn chế về tư tưởng của các sĩ phu yêu nước và của các nhà cách mạng có xu hướng tư sản đương thời , Nguyễn Ái Quốc đã kịp thời đáp ứng nhu cầu bức thiết của lịch sử. Theo Nguyễn Ái Quốc: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”!

Việc lựa chọn phương pháp cách mạng hòa bình hay bạo lực không phải do ý chí chủ quan mà phụ thuộc vào tình hình cụ thể. Nên nhớ rằng, bạo lực là “bà đỡ” cho một xã hội cũ đang thai nghén một xã hội mới. Thử hỏi, nếu Việt Nam không có trận Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu” thì làm sao thắng Pháp? Nếu không có Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử thì làm sao “Mỹ cút, Ngụy nhào”, để có hòa bình, độc lập như ngày nay? Rõ ràng, muốn tự giải phóng khỏi áp bức, bóc lột không thể không dùng bạo lực cách mạng để đập tan bạo lực phản cách mạng. Đó là quy luật phổ biến của cách mạng nói chung và cách mạng vô sản nói riêng. Trên thực tế, có thể có nơi dùng phương pháp hòa bình (bất bạo động), giành được thắng lợi. Nhưng phương pháp hòa bình chỉ có thể đạt được trong những điều kiện cụ thể nhất định và với sự hậu thuẫn của bạo lực cách mạng của quần chúng cách mạng. Cần có một cách nhìn đúng đắn và toàn diện hơn, đó là không nên đồng nhất bạo lực cách mạng với một trong những hình thức của nó là đấu tranh vũ trang mà phải quan niệm về bạo lực cách mạng gồm cả khởi nghĩa vũ trang và bãi công chính trị có tính chất quần chúng. Việc sử dụng bạo lực hay không, sử dụng nhiều hay ít và bằng cách nào, điều đó tùy thuộc hoàn toàn vào điều kiện cụ thể, sự tương quan lực lượng, tính chất của cuộc chiến tranh chính nghĩa hay phi nghĩa.

Thực tiễn hào hùng, bi tráng của dân tộc đã chứng tỏ rằng, bước vào thời đại mới, chỉ có tinh thần yêu nước không thì không thể đánh bại được các thế lực đế quốc xâm lược. Vận mệnh của đất nước đòi hỏi phải có một lực lượng lãnh đạo cách mạng mới, đề ra được đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử và những yêu cầu của thời đại mới, đủ sức quy tụ được cả dân tộc vào cuộc đấu tranh chống đế quốc thực dân, xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc bền vững thì mới giành được thắng lợi.

Đối với Việt Nam, không còn nghi ngờ gì khi nhận định: Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã lãnh đạo nhân dân nước này tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc. Vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng cao trên trường quốc tế. Đó là một thực tế lịch sử, không ai có quyền đảo ngược.

Mọi quan điểm muốn thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, đòi thực hiện “tam quyền phân lập” trong tổ chức và thực hiện quyền lực Nhà nước ở Việt Nam là hoàn toàn sai trái, nó xa lạ với thực tiễn Việt Nam, đi ngược với ý chí và nguyện vọng của tất cả những người Việt Nam yêu nước chân chính. Việt Nam đang là một nước độc lập, có chủ quyền, chính trị ổn định. Vậy mà vẫn có những thế lực thù địch, những kẻ “cơ hội chính trị” mưu toan phá vỡ sự bình yên của nhân dân, chẳng khác gì “sự rắc cát vào những cỗ máy lớn”.

 

Hà Phúc Lâm