Việc Bộ trưởng Tô Lâm ăn thịt bò dát vàng


Gần đây có một số thành phần tà tâm chính trị, xuyên tạc bôi nhọ hình ảnh Bộ trưởng Tô Lâm ăn thịt bò dát vàng ở nước ngoài, tôi có mấy suy nghĩ thế này:

1. Việc các cán bộ cấp cao đi thăm ngoại giao là theo nghi lễ, nghi thức, chương trình, hành trình… rất cụ thể được hai bên thống nhất trong đó có cả đón tiếp, làm việc, nghỉ ngơi, thăm quan…

2. Việc dùng yến tiệc cao cấp là hết sức bình thường, đến nhà người ta thì người ta tiếp gì mình dùng nấy, phải giữ quốc thể và bày tỏ lòng tôn trọng, tình hữu nghị… cho nên khi bạn mời ta ăn món này hay món kia là do bạn và thường người ta hay mời đặc sản của nước họ vừa tỏ ra hiếu khách vừa quảng bá hình ảnh, văn hoá, nước ta cũng thế, đó là văn hoá ngoại giao

3. Khách của quốc gia thì phải tiếp đãi trọng thị, có cao lương mỹ vị thì đưa ra mời để tỏ lòng hiếu khách, có những yến tiệc còn cao cấp hơn rất nhiều chứ ăn thua gì miếng thịt bò, mà đây là nước người ta mời chứ mình có bỏ tiền ra đâu, hoặc ko thì các tập đoàn, doanh nghiệp ngàn tỷ đi tháp tùng mời Bộ trưởng thưởng thức thì đã sao, doanh nghiệp tháp tùng của ta còn tặng bạn cả ngàn tỷ thì 1 bữa ăn sang có đáng gì.

4. Bộ trưởng tôn trọng nước chủ nhà thì nhận lời mời, cũng chỉ là vì tình hữu nghị ngoại giao chứ béo bổ gì cho lắm một bữa ăn, khi người ta đến tuổi 60, 70 tuổi thì miếng ăn cũng đã chán rồi, ai đến tuổi đó cũng ko còn thèm khát gì nhiều

5. Đừng quá coi trọng miếng ăn mà khắt khe cay nghiệt nặng lời xúc phạm người ta, họ làm lãnh đạo cấp cao cũng mệt mỏi, đau đầu lắm, đất nước mỗi ngày bao nhiêu việc mà chỉ ăn 1 miếng đã soi mói, mỉa mai; người dân ăn sang được thì tại sao cán bộ ko đc ăn sang, miễn là ko ăn cắp của ai là đc, đều là con người cả mà, thử hỏi các người đối xử thế có công bằng ?

6. Việc tổng thống Mỹ qua đây ăn phở, bún chả cũng là vì họ thể hiện tôn trọng văn hoá ẩm thực Việt Nam và xây dựng hình ảnh, qua đó họ muốn nói là tôi cũng là người bình thường và rất gần với nhân dân, cũng có ý chính trị trong đó chứ khẩu vị chắc ko hợp, chắc gì đã ngon miệng, còn chủ yếu là ta phải tiếp bằng đại yến sang trọng bậc nhất quốc gia, còn bún phở chỉ là ăn thể hiện thôi, sao ko thấy ai soi mói

Hãy công tâm, đừng phán xét theo kiểu soi mói, bôi nhọ, đã có câu: quân tử khắt khe với mình, tiểu nhân khắt khe với người; đừng lấy bụng tiểu nhân mà đo lòng quân tử.

Phoenix Hải

KHÔNG NÊN XUYÊN TẠC HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 4          KHÓA XIII CỦA ĐẢNG


Gần đây, trên không gian mạng, các thế lực thù địch tiếp tục tuyên truyền xuyên tạc Hội nghị Trung ướng 4 khóa XIII, cho rằng đó là nhằm “củng cố quyền cai trị của Đảng…”. Họ chỉ trích công tác phòng chống tham nhũng của Đảng “chỉ là hình thức, giả mạo nhằm che đạy về cuộc đấu đá tranh giành quyền lực”. Họ ám chỉ sự lãnh đạo của Đảng là “mô hình độc tài”; xuyên tạc, bóp méo các phát biểu, chỉ đạo của lãnh đạo Đảng và Nhà nước.

Phải khẳng định Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII của Đảng thể hiện sự quyết tâm của Đảng và kỳ vọng của Nhân dân. Với tinh thần dân chủ, Hội nghị Trung ương 4 lần này đã thống nhất cao ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm và Kết luận về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng chỉnh đốn Đảng. Cùng với quy định số 32-QĐ/TW vừa được Trung ương ban hành về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực một lần nữa Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định mạnh mẽ quyết tâm phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mà trọng tâm là kiên quyết chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Việc Trung ương ban hành Nghị quyết và những quy định đối với đảng viên là việc làm cần thiết. Trước hết, xuất phát từ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng đối với sự nghiệp cách mạng, sự phát triển đất nước. Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo Nhân dân giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Những thắng lợi đó xuất phát từ đường lối đúng đắn của Đảng. Đảng nắm vững, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng nhiều lần khẳng định: Phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Mặt khác, vấn đề đổi mới, chỉnh đốn Đảng đã trở thành quy luật phát triển của Đảng trong mọi điều kiện, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền. Để Đảng luôn luôn trong sạch, vững mạnh, nhất là trong điều kiện Đảng cầm quyền, thì Đảng phải thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình, thẳng thắn chỉ ra khuyết điểm, sai lầm để tự sửa chữa, chỉnh đốn, tự đổi mới. Vì vậy, thường sau mỗi kỳ Đại hội, Trung ương Đảng ban hành các nghị quyết về xây dựng Đảng để tìm ra các vấn đề cấp bách cần giải quyết và giải pháp khắc phục. Đó là lẽ thường tình.

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít những hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài qua nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút niềm tin của Nhân dân đối với Đảng; nếu không được sửa chữa sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Vì thế, Trung ương Đảng phải ban hành Nghị quyết để làm rõ vấn đề cấp bách đang nổi lên, từ đó đề ra các giải pháp khắc phục. Quyết tâm chính trị của Đảng lần này phù hợp nhiệm vụ trong tình hình mới, đồng thời đáp ứng mong mỏi của cán bộ, đảng viên và Nhân dân về một chính đảng trong sạch, vững mạnh, hệ thống chính trị liêm chính.

Qua hội nghị lần này và nhất là ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, cán bộ, đảng viên và Nhân dân tiếp tục tin tưởng và kỳ vọng những đột phá trên hành trình làm trong sạch Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cán bộ chiến lược đủ phẩm chất, năng lực, uy tín ngang tầm nhiệm vụ. Niềm tin của Nhân dân được xây dựng và củng cố trên cơ sở những kết quả đã được kiểm chứng qua hai nhiệm kỳ thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Với không khí dân chủ, cởi mở, thông tin nhiều chiều, sự quyết tâm chính trị cao, đồng bộ giải pháp từ trên xuống dưới đã minh chứng rõ nét, công cuộc chống giặc “nội xâm” ngày càng phát huy hiệu quả.

Nếu ai đó nói rằng Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII nhằm “củng cố quyền cai trị của Đảng” hoặc chỉ trích công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng “chỉ là hình thức, giả tạo nhằm che đạy về cuộc đấu đá, tranh giành quyền lực” thì đó là cách suy diễn võ đoán đầy ác ý, làm ngơ trước sự thật. Trong hệ thống chính trị ở Việt Nam, Đảng vừa là bộ phận của hệ thống chính trị, vừa là hạt nhân lãnh đạo trong hệ thống ấy, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam bằng cương lĩnh, chiến lược, nghị quyết thể hiện ý chí, nguyện vọng của toàn dân, lợi ích của đất nước, của dân, do dân, vì dân. Nhân dân cũng có quyền tham gia vào việc soạn thảo các văn bản có tính chiến lược, có quyền góp ý vào nhân sự cấp ủy của Đảng. Điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam đã quy định rõ ràng, minh bạch về khen thưởng và kỷ luật trong Đảng (Điều 34, 35), đồng thời phân định thẩm quyền thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm. Theo đó, Ban Chấp hành Trung ương quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, ủy viên Ban Bí thư, ủy viên Bộ Chính trị (Điều 36). Kết quả rõ nét nhất được cán bộ, đảng viên và Nhân dân ghi nhận trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, là công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng đã góp phần khắc phục kịp thời những hạn chế, yếu kém, từng bước kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Kỷ luật, kỷ cương trong Đảng được siết chặt hơn, có tác dụng cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa sai phạm đối với tổ chức đảng và đảng viên. Nhiệm kỳ Đại hội XII Đảng đã để lại dấu ấn đậm nét với nỗ lực làm trong sạch nội bộ. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, đã thi hành kỷ luật hơn 87 nghìn cán bộ, đảng viên; trong đó, có hơn 3.200 đảng viên bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng; thi hành kỷ luật hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó, có 03 ủy viên Bộ Chính trị, 01 nguyên ủy viên Bộ Chính trị, 23 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, 22 sĩ quan cấp tướng. Kết quả đó thể hiện sự quyết liệt, nghiêm minh, “không có vùng cấm”, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, xây dựng hệ thống chính trị liêm chính. Ngay trước Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Ban Bí thư đã quyết định thi hành kỷ luật Ban Thường vụ Đảng ủy Cảnh sát biển Việt Nam nhiệm kỳ 2015-2020 bằng hình thức cảnh cáo; thi hành bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng đối với 02 đảng viên cấp tướng; cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng đối với 07 tướng lĩnh khác. Trước đó, Ủy ban kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật với các hình thức từ khiển trách đến khai trừ ra khỏi Đảng đối với 02 đảng viên cấp tướng và 03 cấp tá của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam. Trong 9 tháng đầu năm 2021, cấp ủy các cấp đã thi hành kỷ luật 126 tổ chức đảng và hơn 9.300 đảng viên.

Nhìn vào con số bị kỷ luật cũng như những bản án gần đây, dư luận không khỏi băn khoăn, lo lắng bởi sự suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên đã “len lỏi” ở mọi cấp, ngành, lĩnh vực với mức độ thiệt hại không nhỏ. Vui sao được khi mà trong số cán bộ bị xử lý kỷ luật hoặc tuyên án phạt tù gần đây, có những người từng là anh hùng hay được xã hội tôn vinh bởi có đóng góp đáng kể cho đất nước. Nhiều cán bộ khi được bổ nhiệm đều là những người được đánh giá là liêm chính, nhưng khi nắm chức, có quyền trong tay rồi lại không giữ được chữ “Liêm”, để tay “nhúng chàm”, để “cái tôi” vị kỷ lấn át mà làm trái, tham nhũng. Có người phấn đấu đến cương vị ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Trung ương Đảng đứng đầu địa phương lớn trong nước vì làm trái, làm bừa đã phải vào tù vẫn tiếp tục bị điều ra tòa trong một số vụ án khác. Cái giá phải trả đối với họ là danh dự, sự nghiệp tiêu tan không bao giờ lấy lại được. Thật xót xa khi có người ví von thật có lý rằng để cứu cả cây xanh thì buộc phải cắt đi những cành sâu mọt. Những tiếng nói sau cùng bày tỏ sự ăn năn hối lỗi trước phiên tòa của kẻ phạm tội được mọi người nghe rõ khi truyền hình đưa tin cũng minh chứng không phải “cuộc đấu đá, tranh giành quyền lực”, như ai đó nhận định. Nhiều người bày tỏ cảm nhận của mình là mừng vì Đảng đã quyết tâm, tập trung và làm thật, đưa ra khỏi đội ngũ những cán bộ, đảng viên không giữ được bản lĩnh, phẩm chất, mắc sai lầm. Nhắc lại chuyện không vui ấy, càng thấm thía lời cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh-Người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Qua hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, cán bộ, đảng viên và Nhân dân tiếp tục tin tưởng và kỳ vọng những đột phá trên hành trình làm trong sạch Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Nếu bản thân mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người có chức, có quyền không tự ý thức, tu dưỡng, rèn luyện, không nhận rõ trách nhiệm, bổn phận, xem nhẹ giá trị lòng tự trọng để đánh mất chính mình thì khó có giải pháp nào là triệt để nhằm thắng giặc “nội xâm”. Hy vọng rằng, chỉ đạo của Trung ương, đứng đầu là Tổng Bí thư với quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng, sự ủng hộ của Nhân dân sẽ góp phần thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết và Kết luận của Hội nghị Trung ương lần này.

Hà Phúc Lâm

NGHỊ QUYẾT 128/NQ-CP PHÙ HỢP VỚI TÌNH HÌNH THỰC TIỄN VÀ ĐÚNG THỜI ĐIỂM


Nghị quyết 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ về việc Quy định tạm thời “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19” (Nghị quyết 128) là một bước tiến rất quan trọng, hoàn toàn phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu phòng, chống dịch và phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội. Đại diện WHO, cũng như Quyền Điều phối viên thường trú và các Trưởng đại diện các tổ chức Liên Hợp quốc đánh giá cao lộ trình thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả để vừa chống dịch thành công, vừa phục hồi, phát triển kinh tế-xã hội; hoan nghênh Nghị quyết 128 của Chính phủ Việt Nam về phục hồi và thích ứng an toàn đối với đại dịch COVID-19…

Thế nhưng các thế lực thù địch thông qua một số phương tiện truyền thông thiếu thiện chí ở hải ngoại, xuyên tạc rằng việc ban hành Nghị quyết thể hiện sự “thất bại” của Việt Nam trong chống dịch COVID-19.

Ngày 17/10, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính họp trực tuyến với các địa phương về công tác phòng, chống dịchCOVID-19. Tại cuộc họp, Thủ tướng phê bình, chấn chỉnh một số địa phương thực hiện chưa nghiêm Nghị quyết 128/NQ-CP. Từ việc này, các thế lực thù địch lại cố tình xuyên tạc, thổi phồng rằng ở Việt Nam xuất hiện tình trạng “trên bảo dưới không nghe”. Với tiêu đề: “Lãnh đạo cấp dưới không phục tùng cấp trên nói lên điều gì?” phát trên RFA đã mượn dư luận cho rằng đó là biểu hiện “thượng bất chính thì hạ tắc loạn”…

Đây không phải lần đầu, mà mỗi khi Việt Nam có chủ trương, chính sách gì mới, các thế lực thù địch lại lợi dụng để xuyên tạc, chống phá. Và việc họ xuyên tạc khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 128 cũng không ngoài mục đích chống phá, hạ uy tín của Đảng, Nhà nước ta…

Từ khi dịch bệnh bùng phát tại Việt Nam, các thế lực thù địch không từ bất cứ thủ đoạn nào hòng chống phá thành quả, nỗ lực của của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong công tác phòng, chống dịch COVID-19. Họ lợi dụng tình hình dịch bệnh phức tạp, đời sống của một bộ phận Nhân dân khó khăn do phải cách ly, giãn cách xã hội, không có việc làm để xuyên tạc những nỗ lực trong phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển kinh tế của chúng ta.

Họ phớt lờ sự thật rồi từ đó dựng chuyện về phòng, chống COVID-19 ở Việt Nam là “đi ngược thế giới”, “coi thường tính mạng con người”, “phân biệt đối xử”; chính quyền “bất lực”; rằng các cơ quan chức năng “không có khả năng”; quân đội tham gia phòng, chống dịch là “đàn áp nhân dân”; lực lượng y tế, tình nguyện viên hỗ trợ phòng, chống dịch là “xâm lược”; Quỹ vaccine phòng COVID-19 là “lừa đảo, móc tiền túi của dân”; bài bác vaccine khiến ngộ nhận bị phụ thuộc nước ngoài; coi một số người tung tin giả đã bị xử phạt là “vi phạm tự do ngôn luận”; nỗ lực của lực lượng tham gia phòng, chống dịch là “diễn để mị dân”; các gói cứu trợ an sinh xã hội do Chính phủ Việt Nam triển khai là “chỉ dành cho cán bộ, đảng viên, bỏ rơi nhân dân”. Nổi lên trong các hoạt động chống phá này là vai trò của tổ chức khủng bố “Việt Tân”, và “Ủy ban cứu người vượt biển” (BPSOS).

Xin nói thêm rằng, trong những năm qua, tổ chức khủng bố “Việt Tân” vẫn liên tục có những hoạt động chống phá Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Với sự cảnh giác cao độ, lực lượng chức năng Việt Nam đã không ít lần ngăn chặn kịp thời các hành vi chống phá, đưa các đối tượng khủng bố ra chịu trách nhiệm trước pháp luật. Còn với BPSOS, với sự hậu thuẫn của một số chính khách thiếu thiện chí với Việt Nam, BPSOS đã trở thành một tổ chức phản động lưu vong với phương thức và thủ đoạn chống đối quyết liệt cả ở trong và ngoài nước, xâm phạm trực tiếp đến an ninh quốc gia của Việt Nam.

Rõ ràng, những lời lẽ xuyên tạc, bịa đặt này là nhằm phủ nhận những kết quả của Việt Nam trong cuộc chiến với COVID-19, đồng thời vẽ nên một bức tranh với những gam màu tối về Việt Nam trong đại dịch, sâu xa hơn là nhằm làm suy giảm niềm tin của Nhân dân với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta.

Trước những âm mưu đen tối, xuyên tạc của các thế lực thù địch, cùng với việc nhận diện rõ các thông tin xấu, độc, xuyên tạc, chống phá… các cơ quan chức năng, cán bộ, đảng viên và Nhân dân cần nhận diện rõ âm mưu của họ, kết hợp đấu tranh trực diện và gián tiếp để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội…

Có thể nói, đến hiện tại, dịch bệnh tại Việt Nam đã cơ bản bị đẩy lùi, tình hình cơ bản ổn định, các địa phương đang rất tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết 128, công bố cấp độ dịch COVID-19 trên địa bàn, từng bước đưa cuộc sống trở về trạng thái bình thường mới.

Cách đây hơn 1 tháng, Việt Nam đứng cuối Bảng Chỉ số phục hồi COVID-19 của Nikkei dành cho 121 quốc gia, vùng lãnh thổ thì đến nay chúng ta đang ở vị trí giữa bảng. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, tình hình kinh tế – xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2021 của nước ta diễn ra trong bối cảnh dịch COVID-19 đang dần được kiểm soát, mặc dù vẫn xuất hiện ca mắc mới tại nhiều địa phương. Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã nỗ lực, quyết tâm cao và đạt được kết quả quan trọng trong phòng, chống dịch bệnh, ổn định đời sống của Nhân dân, từng bước phục hồi và phát triển kinh tế.

Bên cạnh đó, tiến độ tiêm vaccine phòng dịch COVID-19 đạt kết quả khả quan. Theo thông tin từ Bộ Y tế, đến nay, cả nước đã tiếp nhận trên 125 triệu liều vaccine phòng COVID – 19 và phân bổ 81 đợt với tổng số 112,7 triệu liều; tổ chức tiêm trên 90 triệu liều, trong đó tiêm 1 mũi là trên 81,2%; tiêm 2 mũi là 37,3% đối với người từ 18 tuổi trở lên; bắt đầu tổ chức triển khai tiêm vaccine cho người dân dưới 18 tuổi… Đây là kết quả của sự chỉ đạo quyết liệt từ lãnh đạo cấp cao, từ các hoạt động ngoại giao trực tiếp của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội, cho đến quá trình vận động vaccine của các đơn vị trong nước và ngoài nước… Ngay từ khi dịch bùng phát, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ đã dự báo và ban hành chỉ đạo tổng thể công tác phòng chống dịch, trong đó coi chiến lược vaccine như một trong những mũi nhọn hàng đầu. 

Với Nghị quyết 128, sau một tháng thực hiện, được dư luận, người dân đánh giá cao và cho rằng đã tạo ra bước ngoặt trong tư duy, cách thức mới trong phòng, chống dịch; chính sách chống dịch sẽ quy về một mối, thống nhất trong toàn quốc, phá vỡ tình trạng “đóng băng” trong sinh hoạt của người dân cũng như hoạt động kinh tế – xã hội ở một số nơi trong thời gian vừa qua; khôi phục và phát triển kinh tế – xã hội; thực hiện mục tiêu kép, đưa cả nước chuyển sang trạng thái bình thường mới.

Sự thật đó là kết quả từ nỗ lực quên mình của toàn Đảng, toàn dân Việt Nam và không thể phủ nhận. Kết quả của cuộc chiến phòng, chống dịch thời gian qua đã chứng minh Nhân dân và toàn xã hội đặt trọn niềm tin, tích cực ủng hộ ý chí, quyết tâm phòng, chống dịch COVID-19 của Đảng và Chính phủ.

Song Hoàng

VẮC XIN TỐT NHẤT LÀ VẮC XIN ĐƯỢC TIÊM SỚM NHẤT


Tình hình đợt dịch Covid 19 thứ 4 ở nước ta đang có chiều hướng được kiểm soát tich cực. Đó là nhờ có sự chỉ đạo quyết liệt của Đảng và Nhà nước cũng như sự quyết tâm vào cuộc chiến “chống dịch như chống giặc” của toàn quân, toàn dân ta và một yếu tố không kém phần quan trọng là nhờ vào Chiến dịch tiêm vắc xin đang được đẩy mạnh trong cả nước trong thời gian qua… Thế mà, bên cạnh quan điểm “anti – vắc xin” lạc lỏng, hay kêu gọi sai trái là phải lựa chọn vắc xin… thì cũng còn một số luận điệu xuyên tạc về việc tiêm vắc xin của Trung Quốc.

          Vắc xin là biện pháp rất căn cơ trong phòng, chống dịch Covid-19. Chính phủ đã xác định vắc xin có tính chất quyết định, chiến lược, lâu dài và đang đẩy mạnh triển khai chiến lược vắc xin gồm 3 nội dung lớn (tiếp cận, mua vắc xin nhiều nhất, nhanh nhất có thể; đẩy nhanh tiếp cận, chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và sản xuất vắc xin tại Việt Nam; thực hiện chiến dịch tiêm chủng nhanh chóng, kịp thời, an toàn, hiệu quả). Chính phủ kêu gọi tất cả người dân cùng tham gia đóng góp, đồng hành để Việt Nam có vắc xin phòng COVID-19 sớm nhất, tiêm được cho nhiều người dân nhất một cách an toàn nhất có thể, để có miễn dịch cộng đồng sớm, quay lại cuộc sống bình thường. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bộ, ban, ngành và các địa phương đang nỗ lực rất nhiều trong việc tìm mua vắc xin vì nguồn vắc xin  trên thế giới tiếp tục khan hiếm nghiêm trọng, nhất là trong năm 2021 và sẽ tiếp tục là vấn đề cấp bách ở tầm toàn cầu đơn cử như trong 6 tháng đầu năm 2021, thế giới mới sản xuất được 4,5 tỷ liều vaccine, so với 10 tỷ liều cần thiết để đạt miễn dịch cộng đồng. Tiến trình thực hiện các cam kết và bàn giao vắc xin cũng được triển khai khá chậm. Bên cạnh đó, tình trạng bất bình đẳng trong tiếp cận nguồn vắc xin  cũng làm gia tăng sự khan hiếm vắc xin với nhiều quốc gia…

          Ngay từ khi dịch bùng phát, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống dịch Covid-19 đã sớm dự báo, chỉ đạo toàn diện công tác phòng, chống dịch, trong đó có triển khai chiến lược vắc xin. Theo đó, ngoại giao vắc xin được xác định là một mũi nhọn. Ngoại giao vắc xin thực chất là việc tranh thủ các mối quan hệ song phương và đa phương thông qua các tổ chức quốc tế để tăng cường tiếp cận vắc xin cho người dân. Đến nay, chiến lược vắc xin và ngoại giao vắc xin  được triển khai rất quyết liệt, bài bản ở các cấp, đặc biệt ở cấp cao. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội và đặc biệt là Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã quan tâm, chỉ đạo và tham gia trực tiếp rất quyết liệt, không câu nệ hình thức, ngoại giao song phương hay đa phương, điện đàm hay viết thư cho lãnh đạo các nước, lãnh đạo các tổ chức quốc tế như WHO, các doanh nghiệp sản xuất vắc xin… Thủ tướng Chính phủ cũng đã chỉ đạo quyết liệt Bộ Y tế, Bộ Ngoại giao và các bộ, ngành liên quan cùng với hơn 90 cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài vào cuộc. Tính tới nay, lãnh đạo cấp cao, lãnh đạo Bộ Ngoại giao, Bộ Y tế, các đại sứ ta tại các nước đã thực hiện hàng trăm cuộc làm việc, trao đổi, tranh thủ tiếp cận các nguồn vắc xin từ các quốc gia. Không có cuộc làm việc đối ngoại nào không đề cập đến hợp tác về vắc xin cũng như tiếp cận nguồn vắc xin của các đối tác.

          Cho đến nay, Chính phủ đã chỉ đạo tổng lực đàm phán, chuẩn bị nguồn kinh phí mua vắc xin. Bộ Y tế đã đàm phán mua được khoảng 150 triệu đến 170 triệu liều vắc xin phòng COVID-19 nhưng chúng ta chỉ mới nhận được khoảng hơn 50 triệu liều trong đó cơ chế COVAX đã chuyển cho Việt Nam hơn 5,5 triệu liều, Nga đã tặng ta 1.000 liều, Nhật Bản đã viện trợ cho ta khoảng 3,58 triệu liều. Bên cạnh đó, nhiều nước khác cũng đã hỗ trợ vắc xin như Pháp và Ý 1,5 triệu liều. Hàn Quốc, Anh, Đức, Australia, Ấn Độ và một số nước khác cũng có những cam kết hỗ trợ cụ thể với Việt Nam… Không chỉ ở kênh song phương, chúng ta cũng tham gia tích cực vào “ngoại giao vằc xin” ở kênh đa phương và cũng đã đóng góp 500.000 USD vào Quỹ vằc xin toàn cầu, được thế giới đánh giá cao. Gần đây, trong chuyến thăm hữu nghị chính thức Cuba và tiếp đó là tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 76 và thực hiện một số hoạt động song phương tại Mỹ, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã đạt được những kết quả tốt đẹp như Cuba nước đang sản xuất vắc xin Abdala đã tặng 500 ngàn liều, cam kết cung cấp 10 triệu liều và chuyển giao công nghệ sản xuất cho Việt Nam, trước mắt giao ngay 01 triệu liều và số này đã về đến Việt Nam và Pfizer cam kết cung cấp đủ 31 triệu liều vắc xin cho Việt Nam trong năm 2021. đồng thời có 20 triệu liều vắc xin cho trẻ em khi Pfizer có đủ dữ liệu về hiệu quả và tính an toàn…

          Riêng Trung Quốc đã tặng Việt Nam 3,5 triệu liều vắc xin Vero Cell và Tập đoàn Vạn Thịnh Phát (VTP) hỗ trợ cho cả nước 13 triệu liều Vero Cell… Được biết vắc xin này do Sinopharm phát triển và sản xuất tại cơ sở Beijing Institute of Biological Products Co., Ltd. (Trung Quốc). Ngày 07/5/2021 vắc xin này đã được WHO đưa vào danh sách sử dụng khẩn cấp (EUL) với hiệu quả bảo vệ lên đến 78,2%, đây cũng là vắc xin đầu tiên sử dụng công nghệ bất hoạt được đưa vào danh sách sử dụng khẩn cấp của WHO và được cấp phép sử dụng tại 64 quốc gia, vùng lãnh thổ. Đến nay, vắc xin này đang sử dụng tại 59 quốc gia với khoảng 800 triệu liều. Trả lời trên báo Gia đình và xã hội vào đầu tháng 8/2021, TS Kidong Park, Trưởng Đại diện WHO tại Việt Nam, khẳng định vắc xin này hiệu quả, lợi ích mà vắc xin này đem lại lớn hơn những nguy cơ đã được biết hoặc có thể xảy ra…

          Thế nhưng một số người do không nắm được thông tin đầy đủ và chính xác đã vội chia sẽ bài phân tich “Sói đã vào nhà – Ý Chính phủ và lòng dân về mua và tiêm Vero cell ?” của TS Nguyễn Ngọc Chu mà Phạm Văn đưa lên facebook hay blogger Châu Xuân Nguyên 2021 đăng trên mạng xã hội với nội dung “Ngay từ đầu Chính phủ VN hoàn toàn không ngỏ ý mua Vero Cell TQ… Nhưng thật không ngờ, Vero Cell tràn vào VN không chỉ bằng cách “sói gửi chân”… Ngày 16/9/2021 Bộ Y tế  cấp giấy phép nhập khầu 30 triệu liều Hayat – Vat là Vero Cell đóng gói ở UAE… Ngày 22/9/2021 Chính phủ VN mua 20 triệu liều vắc xin Vero Cell…” và “Cứ nghĩ đến 20 triệu người VN chiếm 28,57% trong số 70 triệu người từ 18 tuồi trở lên sẽ tiêm Vero Cell mà day dứt không ngủ.”??? Hùa vào dó, BBC News tiếng Việt Covid-19 tự đặt ra câu hỏi: “Không muốn tiêm vaccine Trung Quốc, từ chối có bị xử phạt?”  và Đài Châu Á Tự Do (RFA) không chần chừ gì vội bồi thêm: “Vì sao hầu hết dân phản đối tiêm vác xin Trung quốc?” và “Người dân Thành phố Hồ Chí Minh chỉ còn lựa chọn tiêm vắc xin Trung Quốc”…         Những thông tin sai lệch trên càng làm cho những người vốn lâu nay có tâm lý sử dụng các loại hàng hóa của nước ngoài trừ Trung Quốc thêm hoang mang, lo lắng vì nếu phải tiêm vắc xin do Trung Quốc thì không hiểu hiệu quả ra sao, chưa kể phải gặp những hậu quả như thế nào??? Chính họ và những kẻ loan tin kia không nắm bắt được hay cố tình phớt lờ những thông tin về vắc xin  Vero Cell là sản phẩm đã được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) phê duyệt và Trung Quốc đã tiêm đủ 2 mũi vắc xin do nước mình sản xuất cho hơn 1,3 tỷ người dân chiếm hơn 77% dân số nên đứng đầu thế giới về tiêm vắc xin và thực tế đã kiểm soát tốt tình hình dịch covid 19 ở nước này hơn nhiều so với nhiều nước khác trên thế giới… Nhiều tỉnh thành trong cả nước ta đã nhanh chóng triển khai tiêm vắc xin Vero Cell. Theo số liệu thống kê tiêm vắc xin Vero Cell thì Thành phố Hồ Chí Minh hơn 2,3 triệu liều, Bình Dương 1 triệu liều, Hải Phòng 500.000 liều, Đồng Nai 500.000 liều, Hà Nội 1 triệu liều, còn Quảng Ninh đã tiêm đủ 2 mũi cho tất cả những người dân ở các xã biên giới và hầu hết công nhân ở các nhà máy… và cho đến nay chưa có trường hợp nào tiêm vắc xin Vero Cell mà có các phản ứng nặng. Trong tình hình khan hiếm vắc xin chung thì việc triển khai tiêm các loại vắc xin đã có ở nước ta nói chung, vắc xin Vero Cell nói riêng đã góp phần rất lớn trong việc làm giảm số người mắc bệnh và số người tử vong trong những ngày vừa qua. Rất nhiều người dân trông mong có vắc xin bất cứ loại nào để được tiêm hầu tránh được hậu quả nặng nề khi bị nhiễm covid cũng như để nhanh chóng được cấp “thẻ xanh” hầu có được thuận lợi cho việc đi lại, làm ăn sinh sống trong điều kiện binh thường mới như các ý kiến phát biểu của người dân thành phố Thủ Đức sau đây “Khi nhận được thông báo tiêm vắc xin Vero Cell, tôi đã không ngần ngại đăng kí để được tiêm sớm nhất có thể. Trong thời điểm dịch bệnh vẫn đang diễn biến phức tạp, mình được tiêm là may mắn hơn rất nhiều người nên tôi không kén chọn hay chờ có vắc xin khác mới tiêm…” hay “Gia đình tôi sau khi nhận được thông báo đi tiêm của phường đều đã đăng ký tiêm. Thời điểm này tiêm vắc xin gì cũng được, miễn là được tiêm… Những người thân, bạn bè của tôi sau khi tiêm vắc xin này cũng không gặp phản ứng gì, mọi người đều khỏe mạnh” hay như chị Nguyễn Hà My, phường Nguyễn Trãi quận Hà Đông, thành phố Hà Nội cho biết: “Tôi cảm thấy rất may mắn khi được đi tiêm vắc xin. Tôi nghĩ tiêm loại vắc xin nào cũng được nhưng cần tiêm sớm, vì thời điểm này dịch đang phức tạp như thế này, được tiêm để bảo vệ mình là tốt rồi, không nên kén chọn”…  

          Như vậy, có thể lúc đầu khi triển khai tiêm vắc xin Vero Cell thì có một số người không chịu do chưa nắm bắt được thông tin và cũng bị tác động bởi những luận điệu xuyên tạc như trên đã nêu nhưng qua giải thích của ngành y tế thì đã đồng ý tiêm như phát biểu của anh Nguyễn Văn Tài, Bí thư đoàn Thanh niên phường Thạnh Mỹ Lợi, thành phố Thủ Đức là “Trước khi người dân vào tiêm chúng tôi đều phổ biến cho họ về loại vắc xin sẽ được tiêm. Hầu hết người dân đều tự nguyện và chào đón vắc xin Vero Cell. Những ngày đầu lượng người đến tiêm chưa cao, nhưng sau khi nắm được thông tin cụ thể về loại vắc xin này người dân không còn e dè, lo lắng nữa…”. Thiết nghĩ đó mới thật sự là những suy nghĩ đầy đủ và đúng đắn trong điều kiện chưa có nhiều vắc xin để lựa chọn như hiện nay theo tinh thần “Vắc xin tốt nhất là vắc xin được tiêm sớm nhất”./.

                                                                                              

                                                                                        THÔNG LÃO

CẦN TRÂN TRỌNG VIỆC QUÂN ĐỘI THAM GIA CHỐNG DỊCH COVID-19


Ở Việt Nam, đến nay, làn sóng thứ tư của đại dịch Covid-19 đã có dấu hiệu hạ nhiệt tại một số địa phương từng là “điểm nóng” về dịch bệnh. Riêng TP Hồ Chí Minh, sau hơn một tháng kể từ khi quân đội triển khai lực lượng hỗ trợ siết chặt giãn cách, thành phố ghi nhận những chuyển biến tích cực: Số ca tử vong giảm, nhiều quận, huyện tuyên bố kiểm soát được dịch bệnh. 

Theo yêu cầu của thành phố, lực lượng quân đội chẳng những chưa rút lui mà cần tăng cường để phục vụ công tác xét nghiệm diện rộng. Việc điều động các cán bộ chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam tham gia cùng chính quyền, Nhân dân thành phố phòng chống dịch đã được dư luận xã hội và đông đảo người dân hết sức đồng tình ủng hộ và trông đợi. Đây cũng là đề tài thu hút sự chú ý của các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước cũng như trên mạng xã hội.

Những ngày qua, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” đưa thực phẩm đến từng nhà dân thật là ấm áp. Những chiến sĩ quân y có mặt tại hàng trăm trạm y tế lưu động ở TP Hồ Chí Minh, những hình ảnh chiến sĩ quân y đến nhà thăm khám bệnh nhân F0, vác bình oxy đến tận gia đình… đã góp phần cùng các ngành chức năng cứu được hàng ngàn bệnh nhân Covid-19…

Thế nhưng, thay vì thừa nhận việc làm, hành động đáng trân trọng và cổ vũ đó, một số cá nhân đã trục lợi “câu view”, “câu like” đánh bóng cá nhân… bằng việc đưa tin tức, bình luận phiến diện, chủ quan theo hướng tiêu cực về hình ảnh bộ đội giúp dân chống dịch. Một số cá nhân thiếu thiện chí cùng các thế lực thù địch vẫn cố tình đưa ra cái nhìn đen tối để xuyên tạc, gây nghi ngờ, reo rắc luận điệu phân biệt vùng, miền, vu khống chính quyền, lừa bịp dư luận. Gần đây, trên Nhân Việt TV, trong mục bình luận thơ, ngoài sự mỉa mai tác giả, họ lại ghé gẩm nói: “Việt Nam chống giặc bằng “AK”, họ cho rằng: Đáng lẽ phải tìm các nhà kỹ thuật về y tế thì lại dùng mệnh lệnh quân đội và thi phú, chống dịch bằng “Tuyên giáo”, chống dịch bằng “Quân đội””. Họ quên rằng, nếu không có công tác tuyên truyền, không có công tác tư tưởng thì làm sao dân biết, dân nghe, dân tin như Việt Nam có cách làm hiệu quả này từ khi chưa giành được chính quyền đến nay. Họ cũng tảng lờ thực tế từ khi đại dịch Covid-19 xảy ra đến nay, dưới các hình thức khác nhau không chỉ Việt Nam mà quân đội ở các nước Anh, Pháp, Mỹ, Australia , Tây Ban Nha, Newzeland, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Philippines, Ấn Độ… đã huy động, triển khai đến các khu vực dịch bệnh nghiêm trọng để xây dựng bệnh viện dã chiến, vận chuyển trang thiết bị y tế, hỗ trợ Nhân dân…

 Còn nhớ, hơn một năm trước, ngày 29/6/2020, đài RFI Tiếng Việt đã giới thiệu bài “Giới quân sự đương đầu với Covid-19” của các nhà nghiên cứu. Trong đó, GSM.Bricknell ở đại học King’S College London (Anh) đã kết luận: “Các nguồn lực bổ sung, sự hỗ trợ của quân đội khắp thế giới cho thấy tầm quan trọng của việc coi hệ thống y tế, quân đội là một phần trong nền kinh tế sức khỏe của đất nước”.

Ở một cách nhìn khác, có người đăng trên facebook phán xét rất chủ quan, có tính kích động, rằng: “Bạn cho rằng dân Sài Gòn giờ phút này còn tin vào lời quan chức, ngồi nhà chờ quân đội không cần đổ xô ra siêu thị hay sao?”. Hoặc “tự tay chính quyền chặt gãy nát vụn dòng lưu chuyển thực phẩm thiết yếu đẩy Nhân dân từ thiếu thốn tới đói kém bên cạnh kho gạo ê hề”… lại có cả tình trạng một số người dân đặt đơn hàng cho bộ đội đi chợ hộ nhưng rồi lại không nhận hàng vì… để thử xem bộ đội có đi chợ, đưa hàng giúp dân không (!) hay nghi ngờ hàng bộ đội đem đến “thực đơn nghèo nàn, lại cả tuần mới được mua một lần”, mua cả món họ không thích… Điều đáng nói là mớ thông tin xuyên tạc, bóp méo ấy được bình luận ồn ào, chia sẻ với tốc độ cao, rồi được lực lượng thù địch đón nhận sử dụng thổi phồng gây hoang mang cho xã hội.

 Có thể nói, khi dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp thì cũng là lúc các tin giả, tin đồn, tin bịa đặt về tình hình dịch bệnh lan truyền trên Internet, mạng xã hội ngày càng nhiều, trở thành loại “vi rút biến chủng” nguy hiểm. Tuy không gây bệnh cho con người, nhưng loại vi rút này khiến không ít người hoang mang, lo lắng, ảnh hướng trực tiếp đến công tác phòng chống dịch và đã gây ra những hậu quả khác cho xã hội. Để ngăn chặn tin đồn, tin bịa đặt, mỗi người dân tham gia mạng xã hội hãy tỉnh táo, không chia sẻ, phát tán những tin chưa được kiểm chứng; các cơ quan chức năng cần có “thuốc đặc trị” để ngăn chặn sự lây lan của loại vi rút độc hại này.

 Với Quân đội Nhân dân Việt Nam, đội quân “từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu”, được Nhân dân gọi anh “Bộ đội Cụ Hồ” vì niềm tin son sắt với bộ đội. Quan hệ của Quân đội với Nhân dân đã được khẳng định trong 10 Lời thề danh dự của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Lời thề đó và hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” quên mình vì dân vẫn đi cùng năm tháng, in đậm dấu ấn trong lịch sử dân tộc, trong tâm trí các thế hệ. Dù hoàn cảnh nào, thời gian nào, mỗi khi đất nước cần, Nhân dân cần là “Bộ đội Cụ Hồ” có mặt. Trong tình trạng giãn cách xã hội nghiêm ngặt hơn, lực lượng bộ đội, công an, dân quân và cán bộ phường, xã cũng như những y, bác sĩ làm việc 12 giờ liên tục trong bức bí của bộ đồ bảo hộ…, tất cả đang phải gồng mình lên để phục vụ, đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của hàng chục triệu người để vượt qua dịch bệnh. 

 Chính lúc này, mỗi người cần cảm thông, chia sẻ bằng cách hạ thấp nhu cầu cá nhân để cùng cộng đồng chống dịch. Việc “Bộ đội Cụ Hồ” tham gia phòng chống đại dịch Covid-19 và hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào tại TP Hồ Chí Minh và một số địa phương trong những ngày qua không phải để “làm màu” hay “đánh bóng”, như ai đó ác ý nhận xét mà chính là thực hiện, phát huy truyền thống vẻ vang của Quân đội Nhân dân Việt Nam và nhanh chóng được Nhân dân đón nhận, ủng hộ, đồng lòng… Đó là sự thật hiển nhiên không có ai có thể xuyên tạc. Cần bình tĩnh lắng nghe ý kiến của người dân thành phố trong những ngày dịch bệnh để hiểu những việc làm đầy thiện cảm và trách nhiệm của “Bộ đội Cụ Hồ”.

 Dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp khó lường. Hơn lúc nào hết, trong hoàn cảnh khó khăn của dịch bệnh, mỗi công dân cần nâng cao ý thức trách nhiệm với đất nước, cộng đồng cũng như với chính bản thân và gia đình mình, tiếp tục tuân thủ nghiêm túc mọi nguyên tắc phòng chống dịch bệnh. Cần tỉnh táo chọn lọc thông tin chính xác, tin cậy, không lan truyền thông tin vô căn cứ, bịa đặt, xuyên tạc tình hình dịch bệnh, không để kẻ xấu lợi dụng tiếp tay cho hành vi trái pháp luật. 

 Đừng vô cảm! Đừng vì thỏa mãn những niềm vui cá nhân, hay tìm kiếm những lợi ích trước mắt mà phũ phàng phủ nhận công lao của những người đang cống hiến, chịu hy sinh kể cả tính mạng trong phòng chống dịch bệnh. Phòng chống dịch không phải chỉ là việc của cơ quan chức năng mà là của cả cộng đồng, cái cần nhất chính là ý thức từ mỗi con người trong thực hiện các quy định. Cần dẹp bỏ thói ích kỷ, thói trục lợi, thói “mỵ dân”, để nỗ lực đoàn kết, đồng lòng chung sức đánh thắng đại dịch.

Hà Phúc Lâm

CẢNH GIÁC VỚI THÔNG TIN XUYÊN TẠC KÍCH ĐỘNG TRONG PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID-19


Những ngày qua, cả nước đang phải hứng chịu đợt bùng phát dịch COVID-19 lần thứ 4, với sự xuất hiện của biến chủng đelta vô cùng nguy hiểm, tốc độ lây lan nhanh chưa từng có, khiến cho dịch bùng phát ở nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước, nhất là ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam dịch bệnh đang diễn biến hết sức phức tạp. Trước tình hình đó, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã đoàn kết một lòng, nỗ lực, tích cực tập trung nhân lực, vật lực và quyết tâm cao nhất để dập dịch thành công, bảo vệ Nhân dân và đưa cuộc sống dần trở lại trạng thái bình thường mới.

   Vậy mà những ngày qua trên các trang mạng xã hội, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã phát tán nhiều thông tin xấu độc, tiêu cực nhằm công kích đường lối, chính sách chống dịch và sự chỉ đạo, điều hành trong phòng, chống dịch của lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam; chúng cho rằng, Đảng, Nhà nước ta thông tin không đầy đủ về tình hình dịch bệnh (giấu thông tin số lượng ca nhiễm, ca tử vong do nhiễm bệnh), lợi dụng việc Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam kêu gọi ủng hộ chống dịch, họ rêu rao rằng: Đảng, Nhà nước Việt Nam không lo cho dân mà bắt dân phải đóng góp chống dịch; Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ là “cấm chợ ngăn sông”, làm hại các doanh nghiệp…; vu cáo dàn dựng các hình ảnh Quân đội cứu trợ Nhân dân để che lấp những khó khăn của người dân trong đại dịch Covid-19; phân bổ hỗ trợ vaccine “không công bằng”; lãnh đạo địa phương “ăn chặn” của người dân…

Triệt để khai thác hình ảnh, thông tin phản ánh khó khăn, bức xúc của người dân về nhu yếu phẩm, y tế, hỗ trợ mai táng, ngăn cản di chuyển phục vụ nhu cầu cấp bách, việc đưa quân đội thay cho shipper, xử phạt người vi phạm, hỗ trợ cho người lao động mất việc về quê, hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ cho văn nghệ sỹ,… để chỉ trích sự yếu kém trong vấn đề an sinh cho người dân vùng dịch, công kích khẩu hiệu “không để ai bị bỏ lại phía sau”, chậm trễ giải ngân các gói cứu trợ, bất bình đẳng trong diện ưu tiên hỗ trợ. Đáng chú ý, thủ đoạn tạo tin giả ngày càng tinh vi, phức tạp; xuất hiện một số đối tượng kích động, kêu gọi người dân xuống đường biểu tình đòi triển khai các gói hỗ trợ, phản đối công tác phòng, chống dịch của chính quyền không hiệu quả.

Mới đây, trên không gian mạng xuất hiện bản Google Forms thu thập thông tin “Đăng ký tiêm chủng ngừa COVID-19 (từ 06 đến 12 tuổi)”. Forms thu thập này không có thông tin về đơn vị đứng ra tổ chức tiêm, không rõ địa điểm tiêm và đầu mối liên hệ. Chỉ có các trường dữ liệu yêu cầu thông tin của phụ huynh và trẻ em (năm sinh, số điện thoại, địa chỉ…). Qua theo dõi, xác minh của ngành chức năng cho thấy đây là thông tin giả, ở Việt Nam chưa triển khai tiêm vaccine COVID-19 cho trẻ em.

Lợi dụng chiến dịch tiêm vaccine, trên một số trang mạng phát tán bài viết “Phân biệt vaccine của Thận Nhiên cho rằng, hiện nay ở Việt Nam đang có các quy ước ngầm, bất thành văn, phân chia xã hội thành hai thành phần: thành phần được tiêm vaccine do phương Tây sản xuất và thành phần tiêm vaccine do Trung Quốc sản xuất; trong đó được tiêm vaccine do phương Tây sản xuất là thành phần ưu tiên, hoặc may mắn. Những luận điệu này của Thận Nhiên cũng đang được nhiều đối tượng cơ hội chính trị, chống đối lan truyền trên mạng xã hội. Mục đích duy nhất của những luận điệu này là mượn chuyện vaccine để gây chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc trong phòng, chống đại dịch COVID – 19.

Chúng ta đều biết rằng, ngay từ những ngày đầu khi dịch COVID-19 bắt đầu xuất hiện, Chính phủ đã sớm xác định phương án và đề ra các kịch bản từ thấp đến cao để kịp thời ứng phó. Hàng loạt văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ được ban hành và nhiều biện pháp phòng, chống dịch được triển khai. Cùng với đó, Đảng, Chính phủ và các địa phương đã thành lập Ban Chỉ đạo về phòng, chống dịch COVID-19. Các hoạt động phòng, chống dịch không chỉ được thực hiện bởi ngành y tế, mà là sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và đặc biệt là sự đồng lòng ủng hộ của người dân. Với mục tiêu rõ ràng “vì sức khỏe của Nhân dân”; “đặt sức khỏe, tính mạng của Nhân dân lên trên hết, trước hết”, với phương châm “Chống dịch như chống giặc”. Các chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ và của các địa phương được Nhân dân ủng hộ, chung tay thực hiện.

Khi làn sóng dịch bệnh COVID -19 lần thứ 4 bùng phát, chúng ta đã kịp thời chỉ đạo thực hiện tốt các khâu từ phát hiện, sàng lọc, truy vết, khoanh vùng và chữa trị, cũng như ổn định tình hình Nhân dân, nghiêm túc thực hiện 5K; chuyển công tác phòng, chống dịch bệnh COVID -19 từ phòng ngự sang tiến công. Đặc biệt quán triệt và thực hiện nghiêm Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19. Đến nay, dịch bệnh cơ bản đã được kiểm soát, nhất là đã khoanh vùng được các ổ dịch lớn tại nhiều tỉnh, thành và vẫn đảm bảo các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội phù hợp trong tình hình mới. Chúng ta luôn tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta, cùng với tinh thần trách nhiệm cao, nỗ lực, chỉ đạo không biết mệt mỏi của các cấp, các ngành trong công tác phòng, chống dịch bệnh và sự đồng lòng, quyết tâm của Nhân dân cả nước, Việt Nam nhất định sẽ chiến thắng, đẩy lùi dịch bệnh trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.

Vì vậy, mỗi chúng ta hãy luôn cảnh giác với những thông tin bịa đặt, những luận điệu xuyên tạc, kích động, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị vu cáo Đảng, Nhà nước trong công tác phòng, chống dịch COVID-19. Chiến thắng dịch bệnh là chiến thắng của Nhân dân. Do đó, mỗi người dân hãy là một “chiến sĩ”, là trung tâm, là chủ thể trong phòng, chống dịch. Bình tĩnh, nhưng không chủ quan, lơ là, mất cảnh giác; thực hiện nghiêm túc quy định về phòng chống dịch; chỉ tìm đọc thông tin từ các nguồn chính thống; kịp thời phát hiện những thông tin độc hại đang được lan truyền, tán phát để thông báo tới cơ quan chức năng; tin tưởng vào sự chỉ đạo điều hành của Đảng, Chính phủ trong cuộc chiến chống COVID-19. Kiên quyết đấu tranh, vạch trần âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị.

Linh Kiều

Đấu tranh, vạch trần luận điệu xuyên tạc lịch sử


Đất nước đã qua gần nửa thế kỷ hòa bình, độc lập, Nhân dân đang sống trong tự do, ấm no, hạnh phúc và vươn tới thịnh vượng. Thế nhưng, các thế lực phản động, những kẻ hận thù dân tộc vẫn ráo riết chống phá; chúng cố tình xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam bằng những luận điệu vô cùng xảo trá, thâm thù…

Chiêu trò cũ, dã tâm mới

Phỉ báng lịch sử, khơi gợi hận thù, kích động mâu thuẫn…là mục tiêu thâm độc của các thế lực thù địch, phản động đã và đang thực hiện. Thực chất, những chiêu trò này không mới; song, chúng thực hiện bằng những hành vi hết sức xảo trá, thâm độc.

Dễ thấy, cứ vào dịp Nhân dân ta tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, số đối tượng cực đoan, thù địch trong và ngoài nước lại tru tréo những luận điệu bịa đặt, bóp méo lịch sử… nhằm hạ thấp ý nghĩa các sự kiện quan trọng này. Trên Internet, mạng xã hội (MXH) chúng tán phát các bài viết, sáng tác, phỏng vấn, hình ảnh…hòng gây hoang mang dư luận, gây rối tình hình an ninh chính trị đất nước.

Cụ thể, khi đất nước ta tổ chức kỷ niệm Ngày toàn thắng (30-4), các thế lực thù địch, số đối tượng chống đối trong các hội, nhóm phản động lưu vong lại lu loa, nào: “Ngày Quốc Hận”, “Tháng Tư Đen”, “Vo gạo bằng nước mắt”… Nhiều kẻ cho rằng Đại thắng mùa Xuân năm 1975, thống nhất đất nước chỉ là nội chiến, là chiến tranh ý thức hệ nên không có gì đáng tự hào. Một số kẽ tùy tiện phán xét lịch sử, cho rằng kỷ niệm Ngày chiến thắng không phải là một việc “tử tế” (?!)…

Cù Huy Hà Vũ, kẻ từng bị tuyên án khi bóp méo sự thật về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, gây chia rẽ, thù hằn dân tộc. Vũ đã phát ngôn rằng, hòa hợp dân tộc không dừng ở hòa hợp giữa hai bên “thắng cuộc” và “thua cuộc” mà còn là hòa hợp giữa những nhà dân chủ với chính quyền hiện nay. Chỉ khi nào “chế độ cộng sản sụp đổ, người Việt mới có hòa hợp, hòa giải” (!).  Nguyễn Lân Thắng, “kẻ đốt đền” trong một gia đình khoa học với xảo ngôn: “Mình mong ngày 30-4 sẽ chuyển thành ngày tưởng niệm những mất mát của dân tộc”. Còn Lý Thái Hùng, “con rối” của tổ chức khủng bố Việt Tân hô hào: “Biến ngày 30-4 từ “quốc hận” trở thành “tinh thần quốc kháng” để chống lại chế độ cộng sản…”.

Năm 2018, số đối tượng “chống cộng” lưu vong ở Mỹ tụ tập cái gọi “Tập hợp vì dân chủ cho Việt Nam” để tổ chức hội thảo: “Nhìn lại chiến tranh Việt Nam”; chúng lu loa: “Việt Nam vẫn chưa có tự do, chưa có dân chủ. Nên sứ mệnh của người trẻ tại hải ngoại sẽ phải tiếp tục đồng hành, tiếp tục tranh đấu cho tự do và dân chủ”(?!)…

Trong nước, nhóm “Văn đoàn độc lập Việt Nam” cũng “bàn” chuyện “xét lại lịch sử”, với luận diệu:“Có nhất thiết phải qua chiến tranh mới giành được độc lập không?”. “Nếu không cần chống Mỹ, miền Nam có giàu như Hàn Quốc không?”….

Tương tự, khi cả nước tổ chức kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh (2-9), luận điệu xuyên tạc lịch sử cách mạng, phủ nhận vai trò lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam lại rêu rao trên các diễn đàn MXH. Chúng diễn trò “hạ bệ” lãnh tụ; phủ nhận công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vai trò to lớn của Chủ nghĩa Mác – Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Chúng cho rằng: “Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác  Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp đã gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm; rằng, Hồ Chí Minh đưa chủ nghĩa Mác  Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử…”. Trân tráo hơn, chúng cho rằng, Cách mạng Tháng Tám đã đưa dân tộc vào “thảm họa” với hai cuộc chiến tranh (1945 – 1954 và 1954 – 1975), làm cho đất nước bị tàn phá, dân tộc bị phân ly, nên ngày nay vẫn nghèo nàn, đói khổ…(?!)

Nguyễn Thanh Giang (kẽ chống đối cực đoan ở Hà Nội) đã lộng ngôn phủ nhận toàn bộ công lao, sự hy sinh xương máu của các thế hệ Nhân dân Việt Nam qua 02 cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và đế quốc Mỹ để giành độc lập, thống nhất đất nước của dân tộc ta. Lão trân tráo: “Cách nay mươi năm, tôi vẫn nghĩ đánh Pháp, đuổi Nhật là công của Đảng…. Nhưng giờ này tôi nhận ra là vô nghĩa.”. “Tôi nhận ra cuộc kháng chiến chống Mỹ là vô nghĩa. Đáng lẽ không nên xảy ra núi sông xương máu” (?!). Xin hỏi: Ngày nay, Nhân dân Việt Nam (có gia đình lão) được sống trong một đất nước hòa bình, độc lập, tự chủ, đó là điều vô nghĩa sao ?. Theo lão, cứ cam tâm sống kiếp nô lệ, lầm than của người dân mất nước là có nghĩa hay sao ?!…

Phủ nhận lịch sử là đắc tội với tổ tiên

Từ xuyên tạc, bôi bẩn lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh tụ và Đảng Cộng sản Việt Nam, “phủi bụi” vào quá khứ oai hùng của dân tộc, chúng lộ “nguyên hình” những kẽ phản quốc ! Chúng không hiểu gì về quá khứ, mù mờ hoặc cố tình đánh tráo sự thật, phủ nhận lịch sử Việt Nam bằng những luận điệu  tráo trở và hết sức bẩn thỉu !.

Tom Polgar – nhân viên cấp cao tòa đại sứ Mỹ, một trong những người Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam, trong Hồi ký đã viết: “Ai không học được gì ở lịch sử, bắt buộc phải lặp lại sai lầm trong lịch sử”. Còn Giáo sư D.G. Faust – Hiệu trưởng Trường Đại học Harvard (Mỹ) đã nói: “Lịch sử soi rọi những sự mù quáng và tàn bạo đã làm nên chiến tranh. Nó giúp chúng ta hình dung và đấu tranh cho hòa bình”.

Phẫn nộ trước luận điệu “xét lại”, rằng “Không cần đấu tranh sau này đất nước vẫn giàu mạnh”; “đánh pháp, đuổi Nhật; kháng chiến chống Mỹ là vô nghĩa”, nhà sử học người Mỹ gốc Việt – Nguyễn Mạnh Quang đã viết: “Trừ phi không biết hoặc thuộc loại phản quốc, khi có một nước khác đến ngồi trên đầu làm chủ, không có một người dân tử tế nào bằng lòng chờ cho có ngày bọn thực dân tự động trả lại cơ đồ ông cha mình cả. Nếu theo luận điệu ươn hèn như trên, thì những công lao và sự hy sinh của hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ trong các lực lượng kháng chiến của Nhân dân ta trong đại cuộc đánh đuổi giặc Pháp ngoại xâm từ năm 1858 đến 1954 đều là vô ích hay sao! Và hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến 1954-1975 để đòi lại miền Nam trong tay Mỹ, đem lại thống nhất cho đất nước cũng là vô ích hay sao! Ðưa ra luận điệu này là tỏ ra vô ơn với hàng triệu anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống cho Tổ quốc Việt Nam được trường tồn”.

Thực tiễn sau 46 năm đất nước hoàn toàn độc lập và hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã thay đổi vượt bậc, đất nước phồn vinh, Nhân dân có cuộc sống ngày càng sung túc, đủ đầy và đang thực hiện khát vọng vươn lên trở thành quốc gia hùng cường. Chủ tịch Hồ Chí Minh sai lầm ở chỗ nào? Đảng Cộng sản Việt Nam sai lầm ở đâu? Bác Hồ và Đảng không lãnh đạo Nhân dân đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật, thực hiện  kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quét sạch bè lũ tay sai ra khỏi đất nước mà “xin” đế quốc ngoại bang “rủ lòng thương” tự rút quân, trả lại hòa bình cho Việt Nam ư ?. Rõ ràng, đây là luận điệu của những kẽ phản quốc, cần quyết liệt lên án, vạch trần!

Đạo lý truyền thống của người Việt, bất hiếu với cha mẹ là tội nặng nhất; vong ân, bội nghĩa với thế hệ tiền nhân đã hy sinh xương máu để vun đắp, tạo dựng cuộc sống hiện tại cho mình là mắc tội vô ơn với tổ tiên, nguồn cội, đó là những kẽ đê tiện !

Sự dối trá, hèn hạ, phỉ báng lịch sử, khơi gợi hận thù để kích động mâu thuẫn, lặp lại sai lầm … không chỉ là hành động vô cương, vô pháp và vô ơn với tiền nhân; xúc phạm sự hy sinh xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam mà còn là sự phá hoại tương lai tươi sáng của dân tộc. Vì “Lịch sử là tiếng vọng của quá khứ trong tương lại” (Vivtor Hugo). Chúng ta cần quyết liệt đấu tranh, lên án, vạch trần !…

Chính Tâm

TỰ DO TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO TRONG KHUÔN KHỔ PHÁP LUẬT


Trong âm mưu diễn biến hòa bình (DBHB) chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo, để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, kích động chống đối, nhằm làm mất ổn định chính trị – xã hội, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của ta. Điều đáng chú ý là, mỗi khi Nhà nước ta sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản pháp luật mới về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo nhằm bảo đảm phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) của đất nước, thì họ lại dấy lên chiến dịch xuyên tạc, vu cáo Nhà nước Việt Nam bóp nghẹt tự do tôn giáo, đòi phải bãi bỏ những văn bản pháp luật đó. Họ tâng bốc, ca ngợi tự do tôn giáo ở các nước tư bản: “Tôn giáo được tự do hoạt động, không chịu sự quản lý của Nhà nước”. Đây không chỉ là luận điệu cố tình xuyên tạc công tác quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo ở các nước trên thế giới, mà còn kích động, nhằm làm cho dư luận ngộ nhận rằng, việc Nhà nước ta ban hành các văn bản pháp luật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo là đi ngược lại sự tiến bộ xã hội, tạo phản ứng tiêu cực trong một bộ phận chức sắc, nhà tu hành và quần chúng tín đồ.

Hoạt động tôn giáo không chỉ thuần túy nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của tín đồ, chức sắc, nhà tu hành, mà còn liên quan đến các lĩnh vực đời sống xã hội. Vì vậy mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội và mọi công dân liên quan đến các lĩnh vực đời sống xã hội đều phải tuân thủ pháp luật, càng  không thể đứng ngoài pháp luật của Nhà nước. Bên cạnh xu hướng tuân thủ pháp luật là chủ yếu, thời gian qua trên địa bàn cả nước đã xảy ra một số vụ lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo để gây rối trật tự công cộng, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc và lợi ích của các tín đồ; muốn tách khỏi sự quản lý của nhà nước trong các lĩnh vực như: xây dựng, sửa nơi thờ tự, hoạt động lễ hội, quan hệ với các tổ chức, cá nhân, tôn giáo nước ngoài; tranh chấp, khiếu kiện đòi lại nhà, đất và cơ sở thờ tự…Trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng một số hoạt động và hiện tượng tôn giáo mới (đạo lạ) xuất hiện như: Thanh Hải Vô Thượng sư; Pháp Luân Công; Đạo Trời Thái Bình; Pháp môn Diệu Âm; Nhất Quán Đạo; Ngọc Phật Hồ Chí Minh; Bửu Tòa Tam giáo; Trường Sinh Học; Pháp Môn Di Học, đặc biệt là nhóm Trừ Quỷ Bảo Lộc trên địa bàn thành phố Bảo Lộc…Một số đối tượng tổ chức tuyên truyền đạo trái pháp luật, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hành nghề mê tín dị đoan, tiến hành các hoạt động chống đối, kích động tín đồ, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định chính trị.

Các tôn giáo ở Việt Nam dù nội sinh hay ngoại nhập, muốn phát triển được đều phải hòa đồng với văn hóa dân tộc và phải chịu sự quản lý của Nhà nước tuân thủ pháp luật. Đây là yêu cầu khách quan, bởi vì không có một tôn giáo nào đứng ngoài quốc gia, dân tộc và đứng trên lợi ích quốc gia, dân tộc. Lợi ích quốc gia là cao nhất, trong đó có lợi ích của các tôn giáo. Nội dung quản lý nhà nước ở Việt Nam được ghi nhận trong hiến pháp và pháp luật. Nhà nước ta xác định rõ quyền hạn hoạt động của các tổ chức, cá nhân tôn giáo trên các lĩnh vực quản đạo, hành đạo, truyền đạo; nơi thờ tự của các tôn giáo được Nhà nước bảo hộ; việc thành lập tổ chức tôn giáo phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải đúng quy định của pháp luật, phù hợp với đạo đức, văn hóa và thuần phong mỹ tục của dân tộc. Mọi hoạt động lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc, dân tộc, gây phương hại an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội đều phải bị lên án, đấu tranh ngăn chặn, xử lý nghiêm.

Từ những vấn đề nêu trên chúng ta cần đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng để quần chúng Nhân dân, nhất là chức sắc, tín đồ các tôn giáo nắm và hiểu rõ quan điểm, chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước; thấy rõ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân không chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật mà còn được tôn trọng, bảo đảm đồng bào các tôn giáo là một bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Cùng với đó cần chỉ rõ âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch nhằm phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước do Đảng lãnh đạo; đồng thời để chức sắc, tín đồ thấy rõ trách nhiệm công dân, chủ động đấu tranh với các hoạt động sai trái, vi phạm pháp luật; quan tâm phát triển KT-XH, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các tôn giáo. Bên cạnh đó công tác vận động quần chúng tín đồ, chức sắc tôn giáo các cấp cần nắm chắc chính sách, pháp luật về tôn giáo; thực sự gần gũi, nắm bắt tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của quần chúng tín đồ; tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi để tín đồ, chức sắc các tôn giáo hoạt động đúng pháp luật, vận động đồng bào giáo dân tích cực tham gia các phong trào cách mạng ở địa phương; sống tốt đời, đẹp đạo

Ngoài ra cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền đối ngoại để Nhân dân thế giới và người Việt Nam định cư ở nước ngoài hiểu rõ, hiểu đúng về chính sách tôn giáo của Nhà nước Việt Nam, tình hình tôn giáo ở trong nước; chủ động đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch phản động, lợi dụng chiêu bài tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nhân quyền, đặc biệt lợi dụng diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid – 19 để chống phá Nhà nước Việt Nam, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình, gây mất ổn định chính trị – xã hội của đất nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng nói riêng./.

Hoàng Việt

HÃY THẤU HIỂU VÀ SẺ CHIA


Thời gian gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện một số thông tin cho rằng tỉnh Lâm Đồng bỏ rơi người dân Lâm Đồng đang sinh sống và làm việc ở vùng dịch. Một số thông tin còn chỉ trích nặng nề: “Lâm Đồng không có động thái nào để đón công dân của mình”; “Lâm Đồng là tỉnh duy nhất không có trách nhiệm với dân”…

Rất hiểu và chia sẻ với những lời lẽ trách móc này, vì nó bắt nguồn từ sự bức xúc của một số công dân Lâm Đồng đang phải chịu nhiều áp lực ở những vùng tâm dịch thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phía Nam.

Chuyện đón người dân tỉnh Lâm Đồng đang sinh sống, làm việc ở các vùng có dịch Covid-19 về địa phương đâu phải chỉ có dư luận trong và ngoài địa phương quan tâm mà đó còn là vấn đề lãnh đạo tỉnh suy nghĩ, trăn trở. Các phương án, lịch trình tổ chức đón đưa, chuẩn bị khu cách ly, kiểm tra sức khỏe và các khâu y tế, hậu cần đã được lãnh đạo tỉnh tính toán rất kỹ, phù hợp với điều kiện của tỉnh theo tinh thần công dân ở địa phương nào trong tỉnh thì sẽ đón về địa phương đó. Lãnh đạo các địa phương trong tỉnh từ bí thư, chủ tịch các huyện, thành phố đến bí thư, chủ tịch các xã phải cung cấp số điện thoại để công dân vùng dịch trực tiếp liên hệ và đề đạt nguyện vọng. 

Từ sự thống nhất đó, ngày 28/7/2021, UBND tỉnh đã ban hành văn bản hỗ trợ các đối tượng ưu tiên từ các tỉnh, thành phố đang thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 có nguyện vọng trở về địa phương gồm: người già yếu, tàn tật, phụ nữ mang thai, trẻ em, người ốm đau và người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; hướng dẫn đăng ký danh sách, cung cấp thông tin cá nhân để Lâm Đồng lên lịch trình tổ chức đón.

Ngày 30/7/2021, UBND tỉnh Lâm Đồng đã có văn bản gửi UBND thành phố Hồ Chí Minh về việc hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng ưu tiên là công dân tỉnh Lâm Đồng đang cư trú tại thành phố Hồ Chí Minh trở về Lâm Đồng và đã được lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh ban hành văn bản thống nhất thực hiện…

Như vậy, không phải Lâm Đồng không có động thái nào để đưa công dân của mình trở về địa phương; không phải Lâm Đồng bỏ rơi hay vô trách nhiệm đối với công dân của mình hiện đang nơi vùng dịch.

Tuy nhiên, đây là vấn đề rất hệ trọng cần phải được thực hiện một cách nghiêm túc, thận trọng và buộc phải phối hợp chặt chẽ với địa phương nơi có công dân Lâm Đồng sinh sống. Nếu không thận trọng thì việc lây nhiễm tức thời ngay trong những người được đưa đón về Lâm Đồng chắc chắn sẽ xảy ra và không khéo Lâm Đồng sẽ vỡ trận.

Đáng tiếc, trong khi tỉnh Lâm Đồng và thành phố Hồ Chí Minh đang triển khai thực hiện thì đại dịch Covid -19 diễn biến rất phức tạp; tình trạng lây nhiễm trong cộng đồng tăng đột biến; xuất hiện những F0 không rõ nguồn lây. Đáng lo ngại nhất là tình trạng công dân tự ý “chạy dịch” bằng phương tiện xe 2 bánh diễn ra ồ ạt, khiến cho việc kiểm soát, khống chế dịch càng trở nên khó khăn, phức tạp hơn. Ngay lập tức, Thủ tướng Chính phủ có Công điện chỉ đạo các địa phương quyết liệt phòng, chống dịch với tinh thần “ai ở đâu ở đấy” và Lâm Đồng buộc phải tạm dừng kế hoạch đón công dân về. Đây là sự việc diễn ra ngoài ý muốn.

Nhưng quan tâm đến công dân không chỉ mỗi việc đón công dân về địa phương mà có nhiều cách thực hiện. Trong đó, giải pháp hỗ trợ các điều kiện thiết yếu nhằm đảm bảo tối thiểu cuộc sống cho công dân Lâm Đồng ở vùng dịch đã được tỉnh triển khai ngay từ thời gian đầu dịch bùng phát ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành khác. Từ ngày 16/7/2021 đến nay, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã hỗ trợ hàng nghìn tấn rau, củ, quả; hàng chục tấn gạo và nhiều mặt hàng lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm khác cho thành phố Hồ Chí Minh và các vùng dịch…Ngoài ra tỉnh còn chi viện gần 13 tỷ đồng để kịp thời hỗ trợ cho những đối tượng gặp khó khó khăn bởi dịch Covid-19, trong đó chi viện cho thành phố Hồ Chí Minh 7 tỷ đồng. Trong số đối tượng được hỗ trợ, dĩ nhiên là phải ưu tiên cho công dân Lâm Đồng…

Lâm Đồng không vô cảm hay thiếu trách nhiệm; Lâm Đồng luôn hướng về vùng dịch và quan tâm đến công dân của mình bằng tất cả tấm lòng và trách nhiệm cộng đồng cho dù Lâm Đồng cũng đã và đang phải căng mình chống dịch với số ca nhiễm tính đến ngày 11/8/2021 đã lên đến 161 người cùng những diễn biến khá phức tạp. Một số vùng đã bị giãn cách theo Chỉ thị 15, Chỉ thị 16 của Chính phủ. Lâm Đồng cũng ban hành văn bản vận động công dân hạn chế ra đường từ 21 giờ tối hôm trước đến 5 giờ sáng hôm sau. Các cơ quan, công sở chỉ bố trí 50% CBCCVC làm việc, còn lại phải làm việc tại nhà; một số lện cấm đã được ban hành và được thực thi triệt để; đặc biệt, đội ngũ lái xe vận tải buộc phải tạm trú tại khu vực tập trung do địa phương bố trí. Sự quyết liệt của lãnh đạo tỉnh Lâm Đồng trong phòng chống dịch với tinh thần “phòng thủ chặt, tấn công thần tốc” được Nhân dân đồng tình ủng hộ. Vì vậy, việc công dân Lâm Đồng đang ở nơi vùng dịch “ai ở đâu ở đấy” như Công điện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đâu phải là một sự tồi tệ, mà có khi còn tốt hơn nếu nhìn vào việc tiêm vắc xin ngừa Covid-19 đang được Chính phủ và Nhân dân cả nước ưu tiên đặc biệt cho thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phía Nam.  

Rất thấu hiểu với nguyện vọng chính đáng của công dân Lâm Đồng khi mong muốn được trở về địa phương. Ngược lại, lãnh đạo và Nhân dân trong tỉnh cũng đang rất cần sự cảm thông và chia sẻ từ phía người dân Lâm Đồng đang sống và làm việc ở vùng dịch, bởi “kẻ thù” chung của chúng ta hiện nay là biến thể SARS-CoV-2 loại trừ chúng ra khỏi đời sống cộng đồng là mục tiêu trên hết và trước hết của tất cả chúng ta  lúc này.  

Văn Tòa

CỜ ĐỎ, CỜ VÀNG LUẬN ĐÀM VỀ CHÍNH NGHĨA, HƯ DANH


Tính chính danh, chính nghĩa của cờ đỏ sao vàng.

Từ sau ngày thống nhất đất nước đến nay, các thế lực chống cộng cực đoan ở hải ngoại dùng “cờ vàng ba sọc đỏ” (cờ vàng) làm biểu tượng chống cộng và gọi đó là cờ Quốc gia Việt Nam. Họ tiêm nhiễm vào thế hệ trẻ hải ngoại rằng cờ vàng là cờ chính nghĩa, tự do; còn “cờ đỏ sao vàng” (cờ đỏ) là lá cờ tắm máu của đồng bào Miền Nam Việt Nam. Phải chăng đó là sự ngộ nhận về tính chính danh, chính nghĩa xuất phát từ nhận thức sai lệch về lịch sử hay đó là sự cố tình xuyên tạc lịch sử xuất phát từ căn nguyên gốc rễ của hận thù. Xin luận đàm về câu chuyện này, ngõ hầu cùng các bạn nhận diện rõ ràng, dứt khoát về tính chính nghĩa và hư danh của cờ đỏ, cờ vàng.

Trước hết tôi xin nói về sự ra đời của cờ đỏ sao vàng. Ngay từ đầu năm 1940, Đảng ta đã có chủ trương và ý tưởng sáng tác mẫu lá cờ  phù hợp nhất làm biểu tượng để tập hợp, đoàn kết, cổ vũ động viên các tầng lớp Nhân dân trong các cuộc đấu tranh cách mạng. Hưởng ứng chủ trương này, lãnh đạo Xứ ủy Nam Kỳ đã chủ động xây dựng ý tưởng và cho ra đời lá cờ đỏ sao vàng nhằm kịp thời phục vụ cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ theo kế hoạch đã đề ra. Ngày 23 tháng 11 năm 1940, Chính quyền Cách mạng tỉnh Mỹ Tho được thành lập và tổ chức cuộc mít-tinh với hơn 3.000 người tham dự tại Đình Long Hưng. Lần đầu tiên lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện và tung bay trên ngọn cây bàng trước Đình Long Hưng.

Đến giữa tháng 5 năm 1941, tại Pắc Bó (Cao Bằng), Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 quyết định thành lập tổ chức Việt Nam Độc lập Đồng Minh, ghi rõ: “ Sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp-Nhật, sẽ lập nên Chính phủ Nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy lá cờ đỏ sao vàng làm Quốc kỳ.” Hơn 4 năm sau, ngày 16/8/1945, Quốc dân Đại hội Tân Trào đã ra quyết nghị lấy “cờ đỏ sao vàng” làm Quốc kỳ của nước Việt Nam Độc lập. Đáng lưu ý, chỉ 14 ngày sau đó, lúc 4 giờ chiều 30/8/1945, vua Bảo Đại đã đọc chiếu thoái vị, trao ấn tín cho đại diện Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước Ngọ Môn Huế. Tại buổi lễ thoái vị này, “Hoàng kỳ” được hạ xuống, cờ đỏ sao vàng chính thức thượng kỳ trước sự chứng kiến của vua Bảo Đại cùng hoàng tộc và hàng vạn đồng bào kinh thành Huế! Đó là thời khắc lịch sử chuyển giao từ chế độ quân chủ bù nhìn sang chế độ dân chủ của dân. Kể từ thời khắc lịch sử đặc biệt đó, “cờ đỏ sao vàng” trở thành biểu tượng thiêng liêng của Tổ quốc mà không bất cứ ai có quyền phủ nhận. Và ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, chính thức khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong rừng cờ đỏ sao vàng tung bay rợp trời Quảng trường Ba Đình lịch sử.

Để chính thức hóa Quốc kỳ Việt Nam, ngày 5 tháng 9 năm 1945, Đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký ban hành Sắc lệnh số 5 “Về việc ban hành Quốc kỳ Việt Nam; Quốc kỳ có hình chữ nhật, bề ngang hai phần ba bề dài; nền màu đỏ tươi, giữa có sao năm cánh màu vàng tươi”.

Sau cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên tháng 01 năm 1946, kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tán thành và biểu quyết thông qua cờ đỏ sao vàng chính thức là cờ Tổ quốc Việt Nam.

Như vậy, có ít nhất là 5 cơ sở pháp lý và dân lý để chúng ta khẳng định về tính chính danh và chính nghĩa không thể chối cãi của cờ đỏ sao vàng.

– Một là cờ đỏ sao vàng ra đời từ ngày 23 tháng 11 năm 1940,được Quốc dân Đại hội Tân Trào (đại diện toàn dân) công nhận và ra quyết nghị là Quốc kỳ của nước Việt Nam Độc lập tại kỳ họp ngày 16/8/1945.

– Hai là trong những ngày sục sôi CMT8, Nhân dân ta đã cầm cờ đỏ sao vàng đứng lên khởi nghĩa. 

– Ba là sự chuyển giao từ Hoàng kỳ Bảo Đại sang Quốc kỳ (cờ đỏ sao vàng) của chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa.

– Bốn là được công bố trên toàn thế giới từ ngày 02/9/1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh chính thức đọc bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa dưới rừng cờ đỏ sao vàng.

– Năm là được khẳng định tại kỳ họp đầu tiên Quốc hội khóa đầu tiên tháng 01 năm 1946 với đầy đủ các thành phần và đảng phái trong quốc hội.

– Sáu là được hiến định tại Hiến pháp năm 1946, 1959 và 1976.

 Hiện hữu không có nghĩa là chính nghĩa, hữu danh.

Cờ là đại diện cho chủ quyền quốc gia, là biểu tượng thiêng liêng của đất nước dân tộc, vì vậy cờ Tổ quốc của bất kỳ quốc gia nào cũng có ý nghĩa đặc trưng và thiêng liêng. Nếu “cờ đỏ sao vàng” là chính danh, chính nghĩa thì chúng ta nghĩ như thế nào về “cờ vàng”, nó có chính danh, chính nghĩa không? Nếu không thì phải gọi là cờ gì?

Chúng ta không phủ nhận sự hiện hữu của “cờ vàng” trong lịch sử. Nhưng hiện hữu không có nghĩa là chính nghĩa, hữu danh. Tôi xin chia ra 3 giai đoạn để cùng nhận diện.

– Giai đoạn từ 1890 đến 1920.

Thứ nhất, tạm cho là giai đoạn Vua Thành Thái kế nhiệm trị vì đất nước từ vua Đồng Khánh đã thay Đại Nam Đế Kỳ bằng Đại Nam Quốc Kỳ như nhà báo Lê Quang vừa nói. Tuy nhiên, đây chỉ là sự thay đổi tên gọi bởi lúc bấy giờ đất nước ta nằm dưới chính thể quân chủ, lại bị thực dân Pháp cai trị nên bản chất cũng chỉ là Hoàng kỳ, vì vậy cờ vàng không thể là cờ Tổ quốc đúng nghĩa đại diện cho lòng dân trăm họ.

Thứ hai: Đại Nam Quốc kỳ (nếu có) thì cũng đã bị chấm dứt vai trò lịch sử vào năm 1920, khi vua Khải Định kế nhiệm vua Thành Thái, thay cờ vàng bằng “Long tinh Đế kỳ”.

– Giai đoạn thứ hai từ 1949 – 1955. Điểm mấu chốt của giai đoạn này để chúng ta khẳng định cờ vàng có chính danh, chính nghĩa hay không.

Thứ nhất: Việt Nam đã độc lập từ ngày 2/9/1945, lúc bấy giờ Quốc kỳ của nước ta là cờ đỏ sao vàng và tính chính danh được khẳng định. Tôi xin làm rõ thêm: Tại kỳ họp quốc hội đầu tiên diễn ra vào ngày 2 tháng 3 năm 1946, với sự tham gia của 403 đại biểu, trong đó có cả đại diện các đảng phái: Việt Minh, Đảng Dân chủ , Đảng Xã hộiViệt Cách (Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội), Việt Quốc (Việt Nam Quốc dân Đảng) và 143 đại biểu không thuộc đảng phái nào. Kỳ họp này đã thống nhất biểu quyết lấy cờ đỏ sao vàng làm cờ Tổ quốc. Đây là cơ sở pháp lý khẳng định tính chính danh và chính nghĩa của cờ đỏ sao vàng bởi được sự tán thành của nhiều đảng phái, không có chuyện áp đặt tư tưởng của Đảng cộng sản.

 Thứ hai: Cờ vàng tái xuất hiện vào năm 1949; là biểu tượng của một chính phủ được lập nên từ sự chiếm đóng của ngoại bang đối với một đất nước đã độc lập, có chủ quyền dưới sự quản lý, điều hành của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Khẳng định, việc xâm chiếm đó là phi pháp; cờ của chính phủ được dựng bởi sự xâm chiếm, nó là biểu tượng của sự phi nghĩa.

Thứ ba: Cờ vàng được sử dụng từ năm 1949, tức là sau 3 năm Cờ đỏ được chính thức hiến định là cờ Tổ quốc Việt Nam; vì vậy, không thể và không bao giờ có một lá cờ chính danh nào khác cùng song hành .

Thứ tư: Tại Hiệp định Geneve, thực dân Pháp đã cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại cả hai miền Bắc và Nam vĩ tuyến 17. Nghĩa là Pháp đã thừa nhận: Việt Nam không có bất kỳ một chính phủ nào khác ngoài Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điều đó chứng minh sự hiện hữu của “cờ vàng” trong thời gian trước đó là vô nghĩa và không có lý do để tồn tại.

Giai đoạn thứ ba từ 1955 – 1975.

Sau khi thực dân Pháp rút khỏi Việt Nam, Mỹ thế chân Pháp tiếp tục cái gọi là bảo hộ chính quyền do Pháp dựng lên rồi thay tên đổi họ thành “đệ nhất và đệ nhị Việt Nam cộng hòa”. Họ tiếp tục sử dụng cờ vàng làm Quốc kỳ Việt Nam cộng hòa. Đây là 2 chính phủ cũng được đẻ ra từ sự xâm lược nên cờ vàng không có tư cách là cờ Tổ quốc Việt Nam.

Tôi không phủ nhận sự hiện hữu của cờ vàng trong dòng chảy của lịch sử Việt Nam, nhưng phán xét tính chính danh, chính nghĩa của nó phải bằng lý tính chứ không phải bằng cảm xúc. Theo góc nhìn của tôi, cờ vàng từ thời vua Thành Thái (nếu có – vì chưa khẳng định tính chính xác thực của nó) thì cũng đã không còn ý nghĩa khi mà chính các hậu duệ triều Nguyễn đã xóa bỏ; còn cờ vàng tái xuất hiện sau này đều là biểu tượng cho sự xâm lược của ngoại bang và của chính phủ bù nhìn; nó đại diện cho cái ác; không đủ tư cách đại diện cho chủ quyền và hình ảnh của Tổ quốc Việt Nam.

 Đừng đánh giá lịch sử bằng yêu thương hay ghét bỏ

Mặc dù vậy, các thế lực chống cộng cực đoan hải ngoại vẫn sử dụng cờ vàng để làm biểu tượng chống cộng, họ gọi đó là cờ chính nghĩa Việt Nam Cộng hòa; một số  người thì gọi là cờ của tự do và di sản của người Việt hải ngoại, chúng ta nhìn nhận vấn đề này như thế nào? Tôi cho rằng, họ gọi gì là quyền của họ, bởi có thể là do ngộ nhận; do nhận thức chưa đầy đủ, sai lầm, do thiếu hiểu biết hoặc là do cảm tính và cũng không loại trừ có những người bị ép buộc. Một số bạn trẻ hải ngoại thì họ chưa ý thức được giá trị và ý nghĩa của cờ Tổ quốc, họ bị tiêm nhiễm tư tưởng hận thù của cha ông gia đình họ. Chúng ta cần phải phân loại ra thì mới có sự nhìn nhận đánh giá thấu đáo.

Một là những người cố tình phớt lờ lịch sử vì họ thừa biết cờ vàng không thực danh để đại diện cho quốc gia, dân tộc. 

Hai là những người chỉ dựa vào cảm tính, yêu, ghét mà không cần biết cờ vàng có giá trị hay không và nó đại diện cho cái gì.

Ba là những người “nói leo và làm theo”, không có chính kiến.

Đặc biệt thứ tư là những người lợi dụng cờ vàng để tập hợp, lôi kéo người khác vào tổ chức của mình hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chính quyền và quyên góp tiền tiêu xài.

Không thể gọi cờ vàng là cờ tự do và di sản vì di sản văn hóa là các sản phẩm bao gồm vật chất và tinh thần có giá trị lịch sử – văn hóa – khoa học được chính thức lưu truyền từ đời này sang đời khác. Ở góc nhìn vật thể thìdi sản văn hóa bao gồm: Di tích lịch sử – văn hóa; danh lam thắng cảnh; di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Ở góc nhìn phi vật thể thìdi sản văn hóa là các sản phẩm mang yếu tố tinh thần gắn liền với cộng đồng hoặc cá nhân vật thể và không gian văn hóa liên quan. Các di sản văn hóa phi vật thể có thể kế đến như: Tiếng nói, chữ viết; văn hóa dân gian; tập quán xã hội và tín ngưỡng… Đối chiếu với khái niệm trên thì cờ vàng không thuộc nhóm di sản nào, nó không phải là di vật, cổ vật hay bảo vật quốc gia, cũng không phải là tài sản quốc gia phải giữ gìn để lưu truyền hậu thế. Vì vậy, không thể gọi cờ vàng là cờ di sản. Còn nói đó là lá cờ của tự do cũng không đúng vì cờ vàng được “đẻ” ra dưới sự cai trị của ngoại bang thì làm gì có tự do mà đại diện cho tự do.

Từ năm 1949 đến nay, cờ vàng chưa bao giờ là chính nghĩa, hữu danh và đến nay nó không được Liên Hiệp Quốc hay bất kỳ quốc gia nào trên thế giới công nhận. Mặt khác, không phải người Việt nào ở hải ngoại cũng sử dụng cờ vàng mà chỉ có một số cựu ngụy quân, ngụy quyền và số ít thân hữu của họ tung hô, nên nó cũng không là biểu tượng chung cho cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Và như đã phân tích, cờ vàng cũng không hội đủ các yếu tố để gọi là “Lá cờ tự do và di sản”.

Đã 76 năm kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời Tuyên ngôn Độc lập 02/9/1945; cờ đỏ sao vàng đã cùng dân tộc Việt Nam đi suốt chặng đường dài gìn giữ và xây dựng đất nước, hiên ngang tung bay khắp mọi miền châu lục; là biểu tượng của hồn thiêng nước Việt, là niềm tự hào của mỗi một người dân Việt Nam dù sống ở bất kỳ đâu.

Chúng tôi, những người làm báo Lâm Đồng luận đàm vấn đề này nhằm một thông điệp duy nhất là đừng đánh giá lịch sử bằng sự yêu thương hay ghét bỏ; đừng áp đặt lịch sử bằng tư tưởng hận thù; đừng bóp méo làm biến dạng lịch sử vì hư danh, vì hoang tưởng, dã tâm mà đắc tội với tiền nhân và hậu thế.

Văn Tòa